Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn thơ nguyễn thị Châu. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn thơ nguyễn thị Châu. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2023

Khóc Thầm & Đêm Trăng Bến Cẫm Giang - Thơ Nguyễn Thị Châu


1./ KHÓC THẦM

Hôm nao em tiễn anh đi

Hành trang là cổ quan tài lẻ loi

Giọt dài, giọt ngắn đơn côi

Lá vàng đưa tiễn một đời thế nhân

Đưa anh ra đến mộ phần

Mình tôi trở gót lang thang đường về

Còn đâu giây phút cận kề

Con đường xóm nhỏ đi về có nhau

Chiều tà cho tới đêm thâu

Cùng ai thao thức? Những câu ân tình

Nằm ôm gối chiếc một mình

Trở trăn, trăn trở duyên tình còn đâu

Rêu phong phủ kín tình sầu

Trăng Thu chênh chếch trên cầu thê lương

Ra đi để lại nhớ thương

Chìm vào cát bụi, vấn vương cho đời

Từ nay xa cách hai nơi

Vĩnh hằng anh đến còn tôi khóc thầm

Anh ơi! Nơi cỏi xa xăm

Nấm mồ anh đó, anh nằm an yên….!

25-10-2023

Nguyễn thị Châu

 

 2./ ĐÊM TRĂNG BẾN CẨM GIANG

 Bóng nguyệt còn đây anh ở đâu?

Đêm nay trăng sáng gợi cung sầu

Bến sông ngày ấy ta cùng ngắm

Ca ngợi trăng vàng hoạ mấy câu

 

Cẩm Giang sông nước nhìn say đắm

Gợn sóng lăn tăn ánh trăng soi

Múc ánh trăng vàng cho em đó

Nụ cười duyên dáng nở trên môi

 

Trên chiếc thuyền con ở bến sông

Hai trái tim yêu, một tấm lòng

Nước biếc Cẩm Giang xin làm chứng

Cho tình đôi lứa như ước mong

 

Cẩm Giang ngày ấy, không còn đến

Anh đã rời xa cả bến sông

Không còn đứng ngắm trăng vàng nữa

Không múc ánh trăng để tặng nàng

 

Cẩm Giang ơi! Hởi Cẩm Giang ơi!

Từ nay vắng bóng anh tôi rồi

Ánh trăng cũng khóc từ hôm ấy

Bỏ lại bến xưa, trăng lẻ loi…!

25-10-2023

Nguyễn thị Châu

Tranh Tô Ngọc Vân

Mời Xem :
 

 Trang Thơ Nguyễn Thị Châu (1) : HẸN GẶP NHAU,TÌNH BƠ VƠ, TÌNH THƠ VÀ HOA QUỲNH

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Đôi nét về trường TH.Tây Ninh- PH

60 năm  là một thời gian ngắn với lịch sử,với nhũng thăng trầm của đất nước nhưng với đời người đó là một thời gian dài...Những kỷ niệm xưa nay hầu như chìm vào quên lảng...Xin thứ lỗi cho những sai  sót trong bài 
 Tha lỗi cho tác giả : vì yêu mến ngôi trường xưa "cả gan " viết bài nầy theo ký ức

Ngay khi  thành lập CP.Việt Nam Cộng Hòa (1954) Bộ  Quốc Gia Giáo Dục đã gấp rút thành lập và xây dựng tại mỗi tỉnh 1 trường TH.Công lập.
Trong thời gian từ 1945 đến 1954,tại miền Nam  VN rất ít tỉnh có trường Trung học công lập.
Trường Trung học chỉ có ở Saigon và các tỉnh lớn như Mỷ Tho,Cần thơ Phần nhiều trường TH.Tư thục  là  do các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo lập ra,có thu học phí,chương trình dưa theo chương trình trung học của Pháp nên  con  em bình dân,nghèo ít có cơ hội học tập lên bậc Trung học.
Tại TN,trước khi trường TH tỉnh ra đời,đạo Cao Đài có mở trường Đạo Đức Học Đường trong nội ô Tòa Thánh TN và trường  Lê văn Trung tại cửa số 7,ngoại ô Tòa Thánh TN, học  sinh từ các nơi  khác về học rất đông và  chỉ phải đóng học phí tượng trưng rất ít
 

Ngày 15/9/1954 là ngày khai giảng của tất cả các trường THCL  trên toàn miền Nam....
 Trường TH.Công Lập Tây Ninh khai giảng khóa đầu tiên với 200 em tuyển từ các em đậu Tiểu Học từ trước đó (tuổi cao nhất là 15)
Ban đầu,do cất chưa kịp nên lớp 54-55 phải học tạm tại trường Tiểu học tỉnh.

 Đến đầu năm 1955,một ngôi trường mới tọa lạc tại ngả ba Đồn (gọi là ngả ba Đồn vì nơi đó  xưa có 1đồn lính Pháp đóng quân),trên đường vào chợ cũ được hình thành 1 tòa nhà có 1 lầu gồm 8 phòng học rộng rãi,văn phòng .Để có được cơ sở nầy,nhà nước phải giải tỏa 1 khu nghĩa địa (ảnh )

 Học sinh khóa 2  (năm 1956 ) được vào ngay nhà mới khỏi đi học nhờ như các lớp anh chị...
Học sinh vào TH.TN bắt đầu lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ) công lập không phải đóng 1 khoãn học phí nào.
Năm học 1955,56,57 mỗi năm học sinh đậu cao ( từ 1 đến 35 )còn được nhận học bổng 1000đ/năm.
Khi vào lớp,HS phải mặc đồng phục: nam: áo sơ-mi trắng,quần xanh hay đen,mang giầy hay sandale
.Nữ : áo dài trắng,quần đen hay trắng và mang guốc,sandale và cấm không cho mang dép kẹp (dép Nhật). (HS  nam khóa đầu tiên còn mặc đồng phục như tiểu học:quần short,nữ  áo dài ).
Trường  chia  HS thành 4 lớp A,B,C,Đ
Nam  học   A,B.Nữ Đ.Riêng lớp C là 1 lớp  hổn hợp , nam và nử học chung
HS vào 2 năm đầu tiên phải học  2 Sinh ngữ là Pháp (chính) và Anh (phụ).
Về sau cải cách GD, giữa 1958 ..Hs  bậc TH. Đệ Nhất Câp  chỉ phải  học 1 sinh ngữ  thôi (Anh hoặc Pháp),lên bậc THĐ.Nhị cấp  (từ đệ tam trở lên )mới phải học 2 SN.
Trong những năm tiếp theo từ 1956,trường được xây dựng tiếp thêm  nhiều phòng học kế các lớp cũ
 HS.khóa đầu tiên 1955,sau khi đậu Trung học Đệ nhất cấp (1959 ) phải đi các trường khác để học lớp cao hơn vì trường chưa mở lớp đệ tam
Năm 1960,HS.  khóa 2 (1956)  thị tốt nghiệp THĐIC.Trường mở tiếp bậc THĐ.Nhị cấp với 4 lớp (2B và 2 A,trong đó  A.2 và B.2 là 2 lớp Nam.Các lớp còn lại nam nữ học .
(Lưu ý là phân ban hồi đó hơi khác hơn phân ban của CHXHCNVN bây giờ A: Vạn vật là môn chính.B; Toán. Riêng C; văn chương mấy năm đầu không có
Mỗi năm , càng lên lớp cao hơn thì hụt HS nên để cho đủ sỉ số lớp  có tuyển thêm  nhiều học sinh các trường chung quanh
Năm 1963,trường đã có thí sinh dự thi Tú Tài 2 tại Saigon.
Từ năm 1971,trường chia ra làm 2 trường Nam và Nữ.
( Năm 1970,Công binh Phi Luật Tân giúp tỉnh Tây Ninh cất thêm 1 trường Nữ Công Lập trên dãy đất trông phía ngả ba Ao hồ đi ra thị xã nên một số HS nữ và Thầy cô chuyển sang đây.Trường nầy có tên là Nữ TH.Ngọc Vạn,)
Xin nêu tên  Thầy, Cô  từng làm Hiệu trưởng và giảng dạy  đến 1970.

Vị HT đầu tiên: Thầy .Nguyễn văn Mạnh. T.Mai Hửu Chỉnh ,T.Vũ Đình Triều, T.Trần văn Thử,T.Trần Bình Quang,T.Trịnh Quốc Thế, T.Lương Hửu Tống,(1970-74)T.Nguyễn  Quang Ngân (đến  30/4/1975 thì bàn giao cho CQ mới)
Các GS :

 1.- Nguyễn thị Hồng Vân (mất 11/9/ 2021 Tay Ninh

,Lý thị Minh Nguyệt,Nguyễn thị Thái(mất -Vũng Tàu ),  Phạm thị Bạch Tuyết (mất 16/9/2020,Mỷ ), Trần thị Hường,Trần thị Hoa,Nguyễn thị Hòa,Nguyễn thị Loan,Nguyễn thị Tuyết (mất), Nguyễn thị Thu Vân, Nguyễn thị Hồng, Nguyễn thị  Kim Anh (mất ),Nguyễn thị Hạnh (mất 249/4/2025 ,Mỷ ),  Nguyễn thị  Quý, Tôn Nữ Quỳnh Cửu,Nguyễn thị Hương Yên,  Nguyễn Thục Đoan,Vương Thanh Tú, Lưu thị Quy, Ngô thị Ngọc Anh,Vỏ Kim Hà (mất 17/3/ 2016 TN ),Nguyễn Ngọc Nương ,Lê thị Thu Vân (mất)
 

2.- Thầy :Tô Thảo,Vỏ văn Tam  (mất ),Nguyễn văn Thại,Tạ Cao Huê,  Nguyễn Đình Chính,Mai văn Sít (mất 5/9/2016.),Nghiêm Phú Phát, Lê Hửu Khoan (mất) Nguyễn Bá Dinh
Vũ Thanh Triệu, Nguyễn gia Khang,Phùng văn Bộ,Nguyễn an Khương,Nguyễn văn Vinh,Vũ Ngọc Khánh,Đỗ Trọng Thạc,Nguyễn văn Mười,Vỏ văn Nhân, ,Trần văn Rạng,Trần văn Bé,Triệu Canh Ngủ, Huỳnh văn Trí, Hoàng Ngọc Biên (mất 16/5/2019. Mỷ ),Lê Thanh Hoàng Dân,Nguyễn Hoàng Ảnh,Trần Đình Kha (mất 9/1/2014,TN),Võ Công Thành (mất /11/2024,Mỷ)Dương Hồng Quân

Nguyễn Hợp,Nguyễn Tuấn Tú, Phan Nguyên,Hoàng kim Hùng,Nguyễn Ngọc Nam Hùng mất 24/11/2020 SG ,

Nguyễn Quang Ngân,Nguyễn văn Cư,Nguyễn văn Cố, Dương Quán( mất 10/4/2017 ,Mỷ ),Lê Ngọc Thọ, Quản Hùng mất 15/1/2022,Mỷ,

Nguyễn văn Ân,Tôn thất Sum,Nguyễn Đức Dực,Đỗ Đình Huỳnh,Trịnh Hồng Hải,Đỗ văn Hóa,Lương Hửu Tống,Nguyễn Thới Chuẩn ( 5/1/2022 VN),

Nguyễn Khắc Sỷ,Đào Tấn Luật, Cao văn Đạo,Nguyễn văn Dủng ,Nguyễn Phước Quang ( 25/10/2021,Mỷ

,Vủ mộng Long,Đào Việt Long, Châu văn Năm,Nguyễn Vũ Hoan,NS.Anh việt Thu ( mất),Nguyễn Hà Trị mất 6/1/2013,Mỷ),

Nguyễn Tấn Trưởng (mất 13/5/2016,TN ),

Nguyễn văn Ron,Đỗ văn Minh,Lê văn Hùm,Phan Thế Phiệt (mất),Võ Thanh Tòng (29/12/2018,TN),

Vũ Ngọc Chuẩn, Vương Ngọc Em(26/3/2016TN),

Nguyễn văn Thảnh T.GT , Nguyễn Long Châu mất 26/1/2020 Mỷ

 Người trước là HS..sau nầy về dạy tại THTN.là : Võ công Văn,Lâm thị Sắng,Huỳnh thị Kim  Ngân và Võ kim Phụng.
HS trường TH.TN thế hệ 1955-75... đóng góp nhiều trí tuệ trong việc mở mang phát triển tỉnh nhà...
Xin tặng một bó hoa cho những Thầy  Cô còn sống,Thầy cô văn phòng,quí thầy Cô từng làm việc tại trường nhưng vì lý do thời gian đã lâu không  nhớ hết để ghi tên ở đây.
Xin đốt một nén nhang tưởng nhớ Quí Thầy Cô,Bạn bè đã ra đi vào cõi hư vô..
.Một phút để  nhớ các bạn bè có mặt trong  những ngày đầu của trang Hoài Niệm Tây Ninh: Võ thị Nết,Hồ Hùng Vân,Ngô Minh Chí ,Thái kim Trần,Annie Thu An... hiện đã rời bỏ cuộc chơi về miền miên viễn
Và cám ơn nhiều đến các Bạn- đã chuyễn những bài hay,lý thú sưu tầm trên net ,nhờ thế kiến thức chúng ta được mở mang thêm
 Với các học sinh cũ,những kỷ niệm  về nhà trường  THTN là những khoảnh khắc  rất êm đềm của tuổi Thanh Xuân  mà không khi nào có thể trở lại....

Ảnh các thầy tìm đươc trên  các TL xưa hoặc mạng

ảnh 1:T.Tôn thất Sum và Cô Hồng Vân,bìa trái Võ Công Văn họp CHS.TH.Tây Ninh
........2 : Cô Trần Thị Hường và Cô H.Vân tại đám giỗ anh LM.Đức(CHS.TN -chồng chị TTĐời)
........3 :T.Lê Thanh Hòang Dân với các CGS.SPSaigon gốc  Tây Ninh 2012 ).
........4 : Quí Thầy GS,TH.Tayninh
........5 : T.Nguyễn Ngọc Nam Hùng và.T...và các HS
........6 : T.Hoàng Ngọc Biên và vợ -bìa phải,ảnh của Văn Việt 
....... 7   Cô Pham Bạch Tuyết  (phía sau cùng các HS)
........8 : Cô Vương Thanh Tú ( ảnh 2016 nhân chuyến về thăm VN )
........9 : Thầy Trần vă Rạng và HS,cũ (2017 ) H.K.Hoa
........10: T.Nguyễn Thới Chuẩn-GS.Lý Hóa, (2019 )-do Dung Ho Khanh chụp)

Xin các Bạn bổ sung tên TC nếu thấy thiếu .Rất cám ơn


sửa ngày 10/6/2022

Xem Thêm :

Nhớ mãi ơn thầy cô

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Họp cựu GS và hv.NLS ngày 16/2/2014

Ngày 16/2/2014 (17/giêng,Giáp Ngọ) tại trường Kinh Tế-KT Tây Ninh có buổi họp cưu GS và HV .NLS Tây Ninh các khóa từ 1965....
Sáng CN ,lúc 6g  các thầy cô Lê Quan Ngay,Nguyễn Điền Tuấn,Nguyễn Vân An,Trần văn Tây,Pham thị Hòa, Hoa(hs.NLSk.2)  đã có mặt trước siêu thị Sai gòn và lên xe  7 chỗ do Trương Chí Lạc (k.2) lái trực chỉ TN
Xe đến nơi khoãng  hơn 8 giờ..
Mọi người vào hội  trường lúc hơn 9 giờ..
Năm nay nhiều vị cựu GS ko đến được vì bận những việc khác nhau.Thầy cô hiện diện có: Bành văn Sinh,,Nguyễn văn Sỷ,Ngô thiếu Sơn,Hà văn De,Nguyễn Điền Tuấn,Nguyễn văn Nhơn,Lý văn Rỡ,Lê Quan Ngay,Nguyễn Vân An,Nguyễn văn Đôi,Trần Minh Thấu,Trần văn Tây,Phạm thị Hòa,Hồ kim Huệ,Nguyễn Kim Xuyến.Trong đó thầy Tây và cô Huệ lần đâu tham dự.Các vị khách mời là cựu GS Bùi Châu Dương (trường NLS Bình Dương) và Ban Giám hiệu trường TH.Kinh tế-KT .TN.
Dẫn chương trình :Pham thị Ngọc Huệ (k.3).
Sau những nghi thức thường lệ,báo cáo tài chính (ban điều hành có lo được 50 triệu đồng làm học bổng cho các hs.TC Kinh tê-KT.TN.,Nguyễn văn Huynh (k.1) chịu trách nhiệm),mọi người dành một phút mặc niệm tưởng nhớ đến  các thầy cô và cựu hs.đã tạ thế .
Năm 2013,có cô Khưu Kim Liên,hs Nguyễn văn Hiệp,Võ Bá Tãi,Khương Thành Nên đã qua đời.
Sau đó là phần văn nghệ cây nhà lá vườn do Nguyễn văn Mười (Căn nhà ngoại ô), Lê Quốc Sơn (Thu hát cho người),Nguyễn Quốc Đông trình bày một bài hát do chính Đông sáng tác là bài "Nhớ Long Hoa",Võ văn Thênh (Đường Xưa lối cũ),Ngọc Minh (Nắng Chiều), Nguyễn Hoàng Vũ (Hoa học trò) và Trương Quang Lộc,Nguyễn văn Tạo,Nguyễn Quốc Nam với sáng tác chính mình là " Chuyện chúng mình 3 đứa"..(thơ Nguyễn văn Tạo,Trương quang Lộc phổ nhạc)
Đại diện các khóa lần lượt lên  nói cảm nghĩ1  chúc Tết Thầy Cô và các bạn
Sau đây là 1 số hình ảnh:
 Các cựu Giáo sư
các khóa: : 1
khóa 2 .
khoá 3.
k.4
khoá.5

Nguyễn thị Ngọc Sương từ Pháp về đại diện k.1 phát biểu
BTC tặng Ngọc Sương 1 bức thư pháp do Nguyễn Minh Đạo k.1 viết và 1 dĩa CD nhạc của thầy Đặng lê Hùng.
Nguyễn thị Kim Tư k.4.
Sau phát biểu,Kim Tư phải lên xe về Cà Mau liền vì chú em vừa qua đời.Xin chia buồn cùng gia đình Kim Tư.
Sau đó  đến Huỳnh Hửu Vy,đại diện k.3,Nguyễn văn Hiệp,đại diện khóa 2...
Võ văn Thênh,đại diện khóa 5 chúc Tết Thầy cô và hát tặng 1 bài(Đường xua lối cũ).

Bùi thị Bích Nga (k.1)  nhờ Ngọc Huệ gửi lời thăm và cám ơn Thầy Cô,bạn bè qua điện thoại
Trần kim Nhung chúc mừng và cám ơn Thầy Cô và các bạn hết sức giúp đỡ em năm 2008,bị bướu cổ nặng..Em có nhắc chi tiết là thầy Bùi Tho đã bán đấu giá bộ tách trà để giúp em.Hiện nay sức khỏe đã bình thường.
HS.NLS Tây Ninh Nguyễn thị Sen tặng lại thầy Bùi Châu Dương 1 cuốn sách về lâm nghiệp do thầy viết năm 1970,hiện nay đã mất bản chính.( Lâm học toát yếu)
Thầy Bùi Châu Dương.,GS trường NLS Bình Dương

BTC tặng quà thầy cô.
.
Hà thế Mạnh báo cáo tài chính
Ban nhạc.

Tác giã: Nguyễn Quốc Đông hát."Nhớ Long Hoa'"
MC; Ngọc Huệ và thầy Trần Minh Thấu(đeo kinh),Trần văn Tây

Thầy Trần Minh Thấu,một trong 4 người GS đầu tiên của NLS.TN cảm xúc làm một bài thơ tại chỗ gửi tặng học trò cũ:
Giây phút chạnh lòng.
Trong giây phút tâm tình thầy nhắn gửi.
Những yêu thương thắm thiết của lòng tôi.
Rằng: Mai đây có vật đỗi sao dời.
Tình "Thầy-Bạn"không đổi dời gang tấc.
Hãy cùng nhau tâm niệm  để yêu thương.
Để hàng năm hãy về đây họp mặt.
Kể cho nhau những mưa nắng cuộc đời.
Để sống lại những phút giây niên thiếu...
Ôi ! Kỷ niệm đó là những điều kỳ diệu...

Sau khi dùng cơm trưa,thầy trò cùng nhau chụp ảnh để kỷ niệm buổi gặp gỡ hiếm có nầy.

Buổi họp chấm dứt lúc 2 g trưa,sau đó có 1 cuộc họp nhỏ tại nhà Tô Kim Lang của nhóm k.2...
Nguyễn Minh Đạo còn tranh thủ viết tặng Thầy Cô và các bạn những bức chữ thư pháp.
Gần 3 g chiều,lên ra về mà  lòng còn rất lưu luyến.Thời gian  ngắn quá,có nhiều điều chưa nói hết
 Hôm nay, nhiều Thầy Cô và cựu học sinh vì những lý do khác nhau không đến dự được nhưng những kỷ niệm về những tháng ngày chung sức bên nhau học tập vẫn còn  đầy ắp... 
Chúc sức khỏe mọi người.Mong cho Thầy Cô và các em dù ở nơi đâu cũng giữ và nhớ tinh thần NÔNG LÂM SÚC...Hẹn nhau tái ngộ vào năm tới

(Hình ảnh:Tô Kim Lang,Ngọc Huệ)




Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

Thơ Nguyễn Thị Châu - THƠ TÌNH CHO AI ....?


Thơ Tình Cho Ai - Nguyễn Thị Châu

Tôi hứa yêu ai hết một đời
Nhưng tình nay đã quá xa xôi !
Người đi hôm ấy không về nữa
Mượn chút tình thơ để nhớ người

Trăng khuya lơ lững cũng thấy buồn
Trăng nghe ai oán giọt lệ tuông
Trăng ơi ! Hãy cài trên song cửa
Tôi ngắm nhìn trăng đỡ nhớ thương

Ai về ngoài ấy có nhớ tôi ?
Tôi lại nhớ ai nhớ cả đời
Nửa đêm tỉnh giấc lòng thổn thức
Ôm nỗi niềm riêng tôi với tôi

Trăng đã đi rồi ai biết không ?
Bỏ lại mình tôi với nỗi lòng
Người đã xa rồi ai vương vấn ?
Nghe gió đâu đây lạnh cô phòng

Tôi người cô lẻ sống tha phương
Vay mượn tình ai của đời thường
Mượn gió mượn trăng qua ngày tháng
Để rồi bi luỵ thiếu tình thương .

Vần thơ tôi chép lại đôi lời
Mong người bên ấy hiểu dùm tôi
Một kiếp hồng nhan đầy sóng gió
Một thoáng ra đi chuyện đã rồi !

17-8-2021
Nguyễn thị Châu




Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

BẾN CẦU QUÊ TÔI- Thơ Nguyễn thị Châu


BẾN CẦU QUÊ TÔI
🌷🌷
Ai có về lại Bến Cầu không ?
Cho tôi nhắn nhủ lại đôi dòng
Quê hương tôi đó ngày hôm ấy
Thảm ruộng lúa vàng trãi đầy đồng
Con sông Vàm Cỏ chia nhiều nhánh
Có con đò nhỏ khách sang sông
Đưa ta đến những vườn xanh mát
Vang tiếng ngày xưa vùng Ngủ long
Long Thuận , Long Khánh ,Long Giang đó
Long Chữ ,Long Phi ngoãnh lại nhìn.
Bàu Tràm , Tiên Thuận chim sảy cánh
Lơi Thuận đi ra nhớ bưng xình
Mộc Bài nhìn qua biên giới bạn .
Gió bay đêm lại ánh trăng sầu
Trăng về An Thạnh buồn thương nhớ
Yêu mến quê tôi huyện Bến Cầu .!
 
12-1-2022
Nguyễn thị Châu.



Mời Xem :  HẠT CÁT thơ Nguyễn thị Châu

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2021

100 bài thơ hay nhất thế kỷ 20 của Việt Nam (Báo Thanh Niên )

Được phát động từ đầu năm 2005, cuộc thi Chọn những bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20 do Trung tâm văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo Dục phối hợp tổ chức đã lựa ra được 100 thi phẩm xuất sắc và công bố trong Đêm Nguyên tiêu của Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5.


100 bài thơ, chia đều cho 100 tác giả, không một ai được vinh dự góp mặt với hơn một sáng tác. Hiện tượng này khiến không ít độc giả ngậm ngùi tiếc nuối khi Xuân Diệu có Nguyệt cầm nhưng không có Đây mùa thu tới hay Vội vàng... Hoàng Cầm có Bên kia sông Đuống nhưng không có Lá diêu bông... Nguyễn Duy có Đò lèn nhưng lại vắng Tre Việt Nam hay Hơi ấm ổ rơm...

Ngoài ra sự vắng mặt của nhiều bài thơ nổi tiếng trong danh sách này không khỏi khiến người yêu thơ phải nuối tiếc.

Phong trào Thơ Mới góp mặt trong danh sách với số lượng tác giả, tác phẩm lớn nhất. Tiếp đó là những sáng tác có ảnh hưởng sâu nặng đến suy nghĩ và hành động của bao thế hệ độc giả qua hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp.

Nhà văn Lê Lựu, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Doanh nhân, cho biết: "Chúng tôi nhận được rất nhiều bài viết công phu, thể hiện tình yêu và thái độ trân trọng với thơ ca. Có những độc giả viết đến hàng chục trang bình chọn và đưa ra nhiều lý lẽ bảo vệ cho sự lựa chọn của mình".

100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20 đã được Nhà xuất bản Giáo Dục in thành sách và phát hành rộng rãi.

 

Danh sách 100 bài thơ hay nhất
(Ngoài Nguyên Tiêu, 99 bài còn lại được sắp xếp theo tên tác giả dựa vào bảng chữ cái)

1. Nguyên Tiêu - Hồ Chí Minh

2. Ngày Hòa bình đầu tiên - Phùng Khắc Bắc

3. Những bóng người trên sân ga - Nguyễn Bính

4. Tạm biệt Huế - Thu Bồn

5. Vào chùa - Đồng Đức Bốn

6. Sư đoàn - Phạm Ngọc Cảnh

7. Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc - Văn Cao

8. Núi Đôi - Vũ Cao

9. Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm

10. Tràng Giang - Huy Cận

11. Dọn về làng - Nông Quốc Chấn

12. Quê hương - Nguyễn Bá Chung

13. Say đi em - Vũ Hoàng Chương

14. Miền Trung - Hoàng Trần Cương

15. Đường về quê mẹ - Đoàn Văn Cừ

16. Anh đừng khen em - Lâm Thị Mỹ Dạ

17. Nguyệt cầm - Xuân Diệu

18. Cô bộ đội ấy đã đi rồi - Phạm Tiến Duật

19. Tây tiến - Quang Dũng

20. Lên Côn Sơn - Khương Hữu Dụng

21. Đò lèn - Nguyễn Duy

22. Chiều - Hồ Dzếnh

23. Thăm mả cũ bên đường - Tản Đà

24. Cha tôi - Lê Đạt

25. Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm

26. Núi mường Hung dòng sông Mã - Cầm Giang

27. Mắt buồn - Bùi Giáng

28. Hai sắc hoa tigôn - T.T.KH

29. Đọc thơ Ức Trai - Sóng Hồng

30. Bài thơ tình ở Hàng Châu - Tế Hanh

31. Trở về quê nội - Ca Lê Hiến

32. Đêm mưa - Hoàn

33. Những đứa trẻ chơi trước cửa đền - Thi Hoàng

34. Cửu Long giang ta ơi - Nguyên Hồng

35. Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ

36. Nỗi niềm Thị Nở - Quang Huy

37. Đường khuya trở bước - Đinh Hùng

38. Người về - Hoàng Hưng

39. Đồng chí - Chính Hữu

40. Khi con tu hú - Tố Hữu

41. Lên Cấm sơn - Thôi Hữu

42. Lời nói dối nhân ái - Trang Thế Hy

43. Gánh nước đêm - Á Nam Trần Tuấn Khải

44. Tỳ bà - Bích Khê

45. Gửi bác Trần Nhuận Minh - Trần Đăng Khoa

46. Thu điếu - Nguyễn Khuyến

47. Bến Mi Lăng - Yến Lan

48. Tháp Chàm - Văn Lê

49. Ông đồ - Vũ Đình Liên

50. Đèo cả - Hữu Loan

51. Viếng bạn - Hoàng Lộc

52. Tiếng thu - Lưu Trọng Lư

53. Nhớ rừng - Thế Lữ

54. Một vị tướng về hưu - Nguyễn Đức Mậu

55. Những mùa trăng mong chờ - Lê Thị Mây

56. Dặn con - Trần Nhuận Minh

57. Hội Lim - Vũ Đình Minh

58. Khóc người vợ hiền - Tú Mỡ

59. Cuộc chia ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ

60. Quê hương - Giang Nam

61. Thị Màu - Anh Ngọc

62. Nhớ - Hồng Nguyên

63. Trời và đất - Phan Thị Thanh Nhàn

64. Người đàn bà ngồi đan - Ý Nhi

65. Nhớ máu - Trần Mai Ninh

66. Mẹ - Nguyễn Ngọc Oánh

67. Bông và mây - Ngô Văn Phú

68. Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương - Việt Phương

69. Đợi - Vũ Quần Phương

70. Tên làng - Y Phương

71. Lời mẹ dặn - Phùng Quán

72. Có khi nào - Bùi Minh Quốc

73. Tự hát - Xuân Quỳnh

74. Áo lụa Hà Đông - Nguyên Sa

75. Bài thơ của một người yêu nước mình - Trần Vàng Sao

76. Người đẹp - Lò Ngân Sủn

77. Đồng dao cho người lớn - Nguyễn Trọng Tạo

78. Tống biệt hành - Thâm Tâm

79. Dấu chân qua trảng cỏ - Thanh Thảo

80. Đất nước - Nguyễn Đình Thi

81. Những người đàn bà gánh nước sông - Nguyễn Quang Thiều

82. Nghe tiếng cuốc kêu - Hữu Thỉnh

83. Bao giờ trở lại - Hoàng Trung Thông

84. Bờ sông vẫn gió - Trúc Thông

85. Bến đò ngày mưa - Anh Thơ

86. Thăm lúa - Trần Hữu Thung

87. Cổ lũy cô thôn - Phạm Thiên Thư

88. Nói sao cho vợi - Thu Trang

89. Mưa đêm lều vó - Trần Huyền Trân

90. Bên mộ cụ Nguyễn Du - Vương Trọng

91. Nhớ Huế quê tôi - Thanh Tịnh

92. Màu thời gian - Đoàn Phú Tứ

93. Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử

94. Nhớ vợ - Cầm Vĩnh Ui

95. Em tắm - Bạc Văn Ùi

96. Một ngày ta ngoái lại - Đinh Thị Thu Vân

97. Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên

98. Bếp lửa - Bằng Việt

99. Vườn trong phố - Lưu Quang Vũ

100. Thương vợ - Trần Tế Xương













Theo VNE, VnMedia

Thứ Ba, 21 tháng 3, 2023

Vì sao nhiều địa danh Nam bộ lại cùng có tên Châu Thành, huyện Châu Thành ở Long An nổi tiếng có trái cây gì?

Vanvn- Châu Thành là tên một huyện của tỉnh Long An. Châu Thành cũng là địa danh phổ biến ở Nam bộ. Tên Châu Thành gợi lên nhiều sự tò mò về câu chuyện phía sau một địa danh phổ biến.

Theo Từ điển Tiếng Việt (Quang Hùng – Ánh Ngọc), châu thành là từ Hán Việt. Châu là vùng đất, thành là đô thị, từ châu thành được giải thích là vùng đô thị hay còn gọi là thành phố.

Với cách diễn đạt tương tự, Việt Nam từ điển (Lê Văn Đức) giải nghĩa châu thành là “thành thị, khu vực chính một xứ hay một tỉnh, nơi người đứng đầu xứ hay tỉnh trưởng cai trị, thường dân cư đông đúc, mua bán thịnh vượng”.

Trong sách Phương ngữ Nam bộ ghi chép và chú giải (Nam Chi Bùi Thanh Kiên) ghi rõ: “Châu thành chỉ các làng xã vây quanh tỉnh lỵ”.

Cả 2 cách giải thích này nghe có vẻ khác nhau nhưng thực ra đều phù hợp. Nếu cách giải nghĩa của từ điển dựa vào việc phân tích nghĩa của từ thì Phương ngữ Nam bộ ghi chép và chú giải giải thích dựa trên thực tế cuộc sống hiện nay.

Cũng như huyện Châu Thành của các tỉnh khác, Châu Thành của Long An nằm bên cạnh TP Tân An, trung tâm hành chính của tỉnh. Được biết, thời Pháp thuộc, các địa giới hành chính trong tỉnh có nhiều thay đổi về cả tên gọi lẫn ranh giới.

Các địa phương được tách, nhập, đổi tên nhiều lần. Trong đó, vùng đất Châu Thành ngày nay từng là nơi đặt trung tâm hành chính của các phủ, huyện khác nhau.

Địa chí Long An có đoạn nói về huyện Vàm Cỏ (bao gồm huyện Châu Thành và Tân Trụ) như sau: “Đầu thế kỷ XIX đến nay, trên địa bàn Vàm Cỏ đã lần lượt xuất hiện nhiều trung tâm như phủ lỵ ở huyện Cửu An ở thôn Bình Khuê (nay thuộc xã Quê Mỹ Thạnh) năm 1813 đến năm 1832, đổi làm phủ lỵ phủ Tân An, huyện lỵ huyện Tân Thạnh ở thôn Bình Quới (nay thuộc xã Bình Quới) năm 1941.

Thời Pháp thuộc, trên khu vực Vàm Cỏ ngày nay có 2 thị trấn: Châu Thành và Bình Phước. Việc xuất hiện liên tục của các trung tâm trên địa bàn Vàm Cỏ, ít nhiều phản ánh sự “hội tụ” các tiềm năng kinh tế – văn hóa ở địa phương”.

Từ đó, có thể thấy, trước kia, huyện Châu Thành của tỉnh Long An từng là vùng đất trù phú, thuận lợi, đông đúc dân cư.

Tác giả Nguyễn Thanh Lợi, trong bài viết Giải mật những địa danh kỳ lạ – Đất Châu Thành nam thanh nữ tú (đăng trên Báo Tuổi trẻ online ngày 24.02.2021) giải thích về địa danh Châu Thành như sau: “Ban đầu “châu thành” chỉ các trung tâm hành chính, nơi có chợ búa, các cơ quan của hạt tham biện trú đóng. Sau khi thành lập các thị xã với chức năng “tỉnh lỵ”, nó chiếm một phần diện tích của “châu thành”, phần diện tích còn lại vẫn giữ tên cũ là quận Châu Thành và sau này là huyện Châu Thành”.

Theo ghi chép của Địa chí Long An, những năm 1800, châu thành được sử dụng như một danh từ chung chỉ khu vực trung tâm của một địa giới hành chính và tương đương với huyện.

Ví dụ: Khu tham biện Tân An có: Châu Thành Bình Lập, huyện Tân An và huyện Cửu An; Khu tham biện Phước Lộc có: Châu Thành Cần Giuộc và huyện Phước Lộc,… Điều này phần nào khẳng định quan điểm của tác giả Nguyễn Thanh Lợi.

Cũng theo tác giả, Châu Thành của Long An trở thành tên riêng từ năm 1922. Trải qua nhiều lần đổi tên, tách, nhập, đến năm 1989, Châu Thành chính thức có tên huyện Châu Thành với 13 xã, thị trấn như hiện nay.

Nhắc đến huyện Châu Thành của tỉnh Long An, giờ đây, ai cũng biết đó là vùng quê trù phú với những mái nhà khang trang xen lẫn vườn thanh long xanh mướt

 Huyện Châu Thành, Long An hiện là thủ phủ thanh long của tỉnh. Đây cũng là địa phương đầu tiên xây dựng thành công huyện nông thôn mới.

Nhắc đến huyện Châu Thành của tỉnh Long An, giờ đây ai cũng biết đó là vùng quê trù phú với những mái nhà khang trang xen lẫn vườn thanh long xanh mướt.

Không còn đường đất sình lầy, không còn nhà tạm, dột nát, 100% hộ dân có điện sử dụng, trên 90% hộ dân sử dụng nước sạch đạt chuẩn 02 của Bộ Y tế.

Là huyện nông nghiệp, sản xuất cây thanh long có giá trị cao nên đời sống người dân Châu Thành được nâng lên từng bước. Huyện đang hướng tới xây dựng nông thôn mới nâng cao với lộ trình hoàn thành trong 3 năm nữa.

Huyện Châu Thành của tỉnh Long An cũng là vùng đất anh hùng, giàu truyền thống, nơi sinh ra, lớn lên của nhiều anh hùng, chiến sĩ cách mạng.

Châu Thành là quê hương nhà thơ, nhà yêu nước Nguyễn Thông; Giáo sư, nhà cách mạng tài ba Trần Văn Giàu; nhạc sĩ Cao Văn Lầu; cũng là nơi có Lễ hội Làm Chay được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể.

Người dân Châu Thành hoàn toàn có quyền tự hào về vùng đất quê hương mình, từ sự đặc biệt trong tên gọi, truyền thống văn hóa, lịch sử đến thành quả xây dựng quê hương hôm nay.

QUẾ LÂM

Báo Long An

Xem thêm:

 

Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022

SÔNG VÀM-CỎ - Nguyễn thị Châu

SÔNG VÀM-CỎ

🌷🌷
Miền Đông quê tôi có sông VÀM-CỎ
Nước chảy thì thầm vị ngọt quanh năm
Tưới cả ruộng sâu bát ngát xanh mầm
Ôi ! Thương quá VÀM-CỎ ĐÔNG tươi đẹp
 
Cứ mỗi sáng sóng nhô con nước nổi
Đưa thuyền xuôi về mấy nẻo sông dài
Xem hoa Súng , hoa Mua nở sớm mai
Ôi ! Đẹp quá miền Đông sông VÀM -CỎ
 
Dòng sông xanh có rất nhiều tôm cá
Sóng nhịp nhàn ôm phủ lấy bờ lau
VÀM-CỎ ĐÔNG tên em rất tự hào
Màu nước biếc đến nơi nào mới hết.
 
Đêm trăng sáng sông nằm yên lặng lẽ
Con thuyền xưa có trở lại bến bờ
Hay xuôi mãi không tìm bến đợi chờ
Để ai đó nhìn theo và khẻ gọi..
“ VÀM-CỎ ĐÔNG ơi ! Hởi dòng sông “
12-6-2022
Nguyễn thị Châu
 
Mời Xem :
 

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022

Quê Tôi GÒ DẦU THƯỢNG - Nguyễn thị Châu

 
Quê tôi cánh Vạc kêu chiều
Đồng xanh bát ngát lại nhiều vấn vương
Hoàng hôn vội tắt bên nương
Cánh Cò, cánh Vạc kêu sương bay về
Hai hàng Dứa đứng bờ đê
Hai con rạch nhỏ lại kề bên nhau
Mỗi chiều tan học qua cầu
Vào thôn Dầu Thượng có câu hiền hoà
Thượng-hạ một đoạn đường qua
Có sông Vàm Cỏ chia xa lối về
Thượng trên hạ dưới bộn bề
Ra đi lại nhớ , nhớ về triền miên
Quê tôi có lắm bưng biền
Cỏ Năng , cỏ Lát vắt liền bên nhau
Xanh xanh bát ngát giang đầu
Cánh Cò bay lã lạc vào mây xanh
Bước đi dạ lại không đành
Quê hương tôi đó màu xanh của Trời
Giờ đây đã mất hết rồi
Bê-tông cốt thép đổi thay bưng biền .
 
Nguyễn thị Châu
10-5-2022


 Mời Xem :

NHỚ MÙA H0A PHƯỢNG , TIỄN NHAU - Thơ Nguyễn thị Châu  

CÕI TRĂNG - Thơ Sông Thu Và Thơ Họa

CÕI TRĂNG Ánh trăng vằng vặc khắp không gian Vầng sáng lung linh phủ ngập tràn Vài sợi mây vàng trôi lững thững Một dòng nhũ bạc chảy miên ...