Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn thơ nguyễn thị Châu. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn thơ nguyễn thị Châu. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2023

Khóc Thầm & Đêm Trăng Bến Cẫm Giang - Thơ Nguyễn Thị Châu


1./ KHÓC THẦM

Hôm nao em tiễn anh đi

Hành trang là cổ quan tài lẻ loi

Giọt dài, giọt ngắn đơn côi

Lá vàng đưa tiễn một đời thế nhân

Đưa anh ra đến mộ phần

Mình tôi trở gót lang thang đường về

Còn đâu giây phút cận kề

Con đường xóm nhỏ đi về có nhau

Chiều tà cho tới đêm thâu

Cùng ai thao thức? Những câu ân tình

Nằm ôm gối chiếc một mình

Trở trăn, trăn trở duyên tình còn đâu

Rêu phong phủ kín tình sầu

Trăng Thu chênh chếch trên cầu thê lương

Ra đi để lại nhớ thương

Chìm vào cát bụi, vấn vương cho đời

Từ nay xa cách hai nơi

Vĩnh hằng anh đến còn tôi khóc thầm

Anh ơi! Nơi cỏi xa xăm

Nấm mồ anh đó, anh nằm an yên….!

25-10-2023

Nguyễn thị Châu

 

 2./ ĐÊM TRĂNG BẾN CẨM GIANG

 Bóng nguyệt còn đây anh ở đâu?

Đêm nay trăng sáng gợi cung sầu

Bến sông ngày ấy ta cùng ngắm

Ca ngợi trăng vàng hoạ mấy câu

 

Cẩm Giang sông nước nhìn say đắm

Gợn sóng lăn tăn ánh trăng soi

Múc ánh trăng vàng cho em đó

Nụ cười duyên dáng nở trên môi

 

Trên chiếc thuyền con ở bến sông

Hai trái tim yêu, một tấm lòng

Nước biếc Cẩm Giang xin làm chứng

Cho tình đôi lứa như ước mong

 

Cẩm Giang ngày ấy, không còn đến

Anh đã rời xa cả bến sông

Không còn đứng ngắm trăng vàng nữa

Không múc ánh trăng để tặng nàng

 

Cẩm Giang ơi! Hởi Cẩm Giang ơi!

Từ nay vắng bóng anh tôi rồi

Ánh trăng cũng khóc từ hôm ấy

Bỏ lại bến xưa, trăng lẻ loi…!

25-10-2023

Nguyễn thị Châu

Tranh Tô Ngọc Vân

Mời Xem :
 

 Trang Thơ Nguyễn Thị Châu (1) : HẸN GẶP NHAU,TÌNH BƠ VƠ, TÌNH THƠ VÀ HOA QUỲNH

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Đôi nét về trường TH.Tây Ninh- PH

60 năm  là một thời gian ngắn với lịch sử,với nhũng thăng trầm của đất nước nhưng với đời người đó là một thời gian dài...Những kỷ niệm xưa nay hầu như chìm vào quên lảng...Xin thứ lỗi cho những sai  sót trong bài 
 Tha lỗi cho tác giả : vì yêu mến ngôi trường xưa "cả gan " viết bài nầy theo ký ức

Ngay khi  thành lập CP.Việt Nam Cộng Hòa (1954) Bộ  Quốc Gia Giáo Dục đã gấp rút thành lập và xây dựng tại mỗi tỉnh 1 trường TH.Công lập.
Trong thời gian từ 1945 đến 1954,tại miền Nam  VN rất ít tỉnh có trường Trung học công lập.
Trường Trung học chỉ có ở Saigon và các tỉnh lớn như Mỷ Tho,Cần thơ Phần nhiều trường TH.Tư thục  là  do các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo lập ra,có thu học phí,chương trình dưa theo chương trình trung học của Pháp nên  con  em bình dân,nghèo ít có cơ hội học tập lên bậc Trung học.
Tại TN,trước khi trường TH tỉnh ra đời,đạo Cao Đài có mở trường Đạo Đức Học Đường trong nội ô Tòa Thánh TN và trường  Lê văn Trung tại cửa số 7,ngoại ô Tòa Thánh TN, học  sinh từ các nơi  khác về học rất đông và  chỉ phải đóng học phí tượng trưng rất ít
 

Ngày 15/9/1954 là ngày khai giảng của tất cả các trường THCL  trên toàn miền Nam....
 Trường TH.Công Lập Tây Ninh khai giảng khóa đầu tiên với 200 em tuyển từ các em đậu Tiểu Học từ trước đó (tuổi cao nhất là 15)
Ban đầu,do cất chưa kịp nên lớp 54-55 phải học tạm tại trường Tiểu học tỉnh.

 Đến đầu năm 1955,một ngôi trường mới tọa lạc tại ngả ba Đồn (gọi là ngả ba Đồn vì nơi đó  xưa có 1đồn lính Pháp đóng quân),trên đường vào chợ cũ được hình thành 1 tòa nhà có 1 lầu gồm 8 phòng học rộng rãi,văn phòng .Để có được cơ sở nầy,nhà nước phải giải tỏa 1 khu nghĩa địa (ảnh )

 Học sinh khóa 2  (năm 1956 ) được vào ngay nhà mới khỏi đi học nhờ như các lớp anh chị...
Học sinh vào TH.TN bắt đầu lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ) công lập không phải đóng 1 khoãn học phí nào.
Năm học 1955,56,57 mỗi năm học sinh đậu cao ( từ 1 đến 35 )còn được nhận học bổng 1000đ/năm.
Khi vào lớp,HS phải mặc đồng phục: nam: áo sơ-mi trắng,quần xanh hay đen,mang giầy hay sandale
.Nữ : áo dài trắng,quần đen hay trắng và mang guốc,sandale và cấm không cho mang dép kẹp (dép Nhật). (HS  nam khóa đầu tiên còn mặc đồng phục như tiểu học:quần short,nữ  áo dài ).
Trường  chia  HS thành 4 lớp A,B,C,Đ
Nam  học   A,B.Nữ Đ.Riêng lớp C là 1 lớp  hổn hợp , nam và nử học chung
HS vào 2 năm đầu tiên phải học  2 Sinh ngữ là Pháp (chính) và Anh (phụ).
Về sau cải cách GD, giữa 1958 ..Hs  bậc TH. Đệ Nhất Câp  chỉ phải  học 1 sinh ngữ  thôi (Anh hoặc Pháp),lên bậc THĐ.Nhị cấp  (từ đệ tam trở lên )mới phải học 2 SN.
Trong những năm tiếp theo từ 1956,trường được xây dựng tiếp thêm  nhiều phòng học kế các lớp cũ
 HS.khóa đầu tiên 1955,sau khi đậu Trung học Đệ nhất cấp (1959 ) phải đi các trường khác để học lớp cao hơn vì trường chưa mở lớp đệ tam
Năm 1960,HS.  khóa 2 (1956)  thị tốt nghiệp THĐIC.Trường mở tiếp bậc THĐ.Nhị cấp với 4 lớp (2B và 2 A,trong đó  A.2 và B.2 là 2 lớp Nam.Các lớp còn lại nam nữ học .
(Lưu ý là phân ban hồi đó hơi khác hơn phân ban của CHXHCNVN bây giờ A: Vạn vật là môn chính.B; Toán. Riêng C; văn chương mấy năm đầu không có
Mỗi năm , càng lên lớp cao hơn thì hụt HS nên để cho đủ sỉ số lớp  có tuyển thêm  nhiều học sinh các trường chung quanh
Năm 1963,trường đã có thí sinh dự thi Tú Tài 2 tại Saigon.
Từ năm 1971,trường chia ra làm 2 trường Nam và Nữ.
( Năm 1970,Công binh Phi Luật Tân giúp tỉnh Tây Ninh cất thêm 1 trường Nữ Công Lập trên dãy đất trông phía ngả ba Ao hồ đi ra thị xã nên một số HS nữ và Thầy cô chuyển sang đây.Trường nầy có tên là Nữ TH.Ngọc Vạn,)
Xin nêu tên  Thầy, Cô  từng làm Hiệu trưởng và giảng dạy  đến 1970.

Vị HT đầu tiên: Thầy .Nguyễn văn Mạnh. T.Mai Hửu Chỉnh ,T.Vũ Đình Triều, T.Trần văn Thử,T.Trần Bình Quang,T.Trịnh Quốc Thế, T.Lương Hửu Tống,(1970-74)T.Nguyễn  Quang Ngân (đến  30/4/1975 thì bàn giao cho CQ mới)
Các GS :

 1.- Cô Nguyễn thị Hồng Vân (mất 11/9/ 2021 Tay Ninh

,Lý thị Minh Nguyệt,Nguyễn thị Thái(mất -Vũng Tàu ),  Phạm thị Bạch Tuyết (mất 16/9/2020,Mỷ ), Trần thị Hường,Trần thị Hoa,Nguyễn thị Hòa,Nguyễn thị Loan,Nguyễn thị Tuyết (mất), Nguyễn thị Thu Vân, Nguyễn thị Hồng, Nguyễn thị  Kim Anh (mất ),Nguyễn thị Hạnh (mất 249/4/2025 ,Mỷ ),  Nguyễn thị  Quý, Tôn Nữ Quỳnh Cửu,Nguyễn thị Hương Yên,  Nguyễn Thục Đoan,Vương Thanh Tú, Lưu thị Quy, Ngô thị Ngọc Anh,Vỏ Kim Hà (mất 17/3/ 2016 TN ),Nguyễn Ngọc Nương ,Lê thị Thu Vân (mất)
 

2.- Thầy :Tô Thảo,Vỏ văn Tam  (mất ),Nguyễn văn Thại,Tạ Cao Huê,  Nguyễn Đình Chính,Mai văn Sít (mất 5/9/2016.),Nghiêm Phú Phát, Lê Hửu Khoan (mất) Nguyễn Bá Dinh
Vũ Thanh Triệu, Nguyễn gia Khang,Phùng văn Bộ,Nguyễn an Khương,Nguyễn văn Vinh,Vũ Ngọc Khánh,Đỗ Trọng Thạc,Nguyễn văn Mười,Vỏ văn Nhân, ,Trần văn Rạng,Trần văn Bé,Triệu Canh Ngủ, Huỳnh văn Trí, Hoàng Ngọc Biên (mất 16/5/2019. Mỷ ),Lê Thanh Hoàng Dân,Nguyễn Hoàng Ảnh,Trần Đình Kha (mất 9/1/2014,TN),Võ Công Thành (mất /11/2024,Mỷ)Dương Hồng Quân

Nguyễn Hợp,Nguyễn Tuấn Tú, Phan Nguyên,Hoàng kim Hùng,Nguyễn Ngọc Nam Hùng mất 24/11/2020 SG ,

Nguyễn Quang Ngân,Nguyễn văn Cư,Nguyễn văn Cố, Dương Quán( mất 10/4/2017 ,Mỷ ),Lê Ngọc Thọ, Quản Hùng mất 15/1/2022,Mỷ,

Nguyễn văn Ân,Tôn thất Sum,Nguyễn Đức Dực,Đỗ Đình Huỳnh,Trịnh Hồng Hải,Đỗ văn Hóa,Lương Hửu Tống,Nguyễn Thới Chuẩn ( 5/1/2022 VN),

Nguyễn Khắc Sỷ,Đào Tấn Luật, Cao văn Đạo,Nguyễn văn Dủng ,Nguyễn Phước Quang ( 25/10/2021,Mỷ

,Vủ mộng Long,Đào Việt Long, Châu văn Năm,Nguyễn Vũ Hoan,NS.Anh việt Thu ( mất),Nguyễn Hà Trị mất 6/1/2013,Mỷ),

Nguyễn Tấn Trưởng (mất 13/5/2016,TN ),

Nguyễn văn Ron,Đỗ văn Minh,Lê văn Hùm,Phan Thế Phiệt (mất),Võ Thanh Tòng (29/12/2018,TN),

Vũ Ngọc Chuẩn, Vương Ngọc Em(26/3/2016TN),

Nguyễn văn Thảnh T.GT , Nguyễn Long Châu mất 26/1/2020 Mỷ

 Người trước là HS..sau nầy về dạy tại THTN.là : Võ công Văn,Lâm thị Sắng,Huỳnh thị Kim  Ngân và Võ kim Phụng.
HS trường TH.TN thế hệ 1955-75... đóng góp nhiều trí tuệ trong việc mở mang phát triển tỉnh nhà...
Xin tặng một bó hoa cho những Thầy  Cô còn sống,Thầy cô văn phòng,quí thầy Cô từng làm việc tại trường nhưng vì lý do thời gian đã lâu không  nhớ hết để ghi tên ở đây.
Xin đốt một nén nhang tưởng nhớ Quí Thầy Cô,Bạn bè đã ra đi vào cõi hư vô..
.Một phút để  nhớ các bạn bè có mặt trong  những ngày đầu của trang Hoài Niệm Tây Ninh: Võ thị Nết,Hồ Hùng Vân,Ngô Minh Chí ,Thái kim Trần,Annie Thu An... hiện đã rời bỏ cuộc chơi về miền miên viễn
Và cám ơn nhiều đến các Bạn- đã chuyễn những bài hay,lý thú sưu tầm trên net ,nhờ thế kiến thức chúng ta được mở mang thêm
 Với các học sinh cũ,những kỷ niệm  về nhà trường  THTN là những khoảnh khắc  rất êm đềm của tuổi Thanh Xuân  mà không khi nào có thể trở lại....

Ảnh các thầy tìm đươc trên  các TL xưa hoặc mạng

ảnh 1:T.Tôn thất Sum và Cô Hồng Vân,bìa trái Võ Công Văn họp CHS.TH.Tây Ninh
........2 : Cô Trần Thị Hường và Cô H.Vân tại đám giỗ anh LM.Đức(CHS.TN -chồng chị TTĐời)
........3 :T.Lê Thanh Hòang Dân với các CGS.SPSaigon gốc  Tây Ninh 2012 ).
........4 : Quí Thầy GS,TH.Tayninh
........5 : T.Nguyễn Ngọc Nam Hùng và.T...và các HS
........6 : T.Hoàng Ngọc Biên và vợ -bìa phải,ảnh của Văn Việt 
....... 7   Cô Pham Bạch Tuyết  (phía sau cùng các HS)
........8 : Cô Vương Thanh Tú ( ảnh 2016 nhân chuyến về thăm VN )
........9 : Thầy Trần vă Rạng và HS,cũ (2017 ) H.K.Hoa
........10: T.Nguyễn Thới Chuẩn-GS.Lý Hóa, (2019 )-do Dung Ho Khanh chụp)

Xin các Bạn bổ sung tên TC nếu thấy thiếu .Rất cám ơn


sửa ngày 10/6/2022

Xem Thêm :

Nhớ mãi ơn thầy cô

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Họp cựu GS và hv.NLS ngày 16/2/2014

Ngày 16/2/2014 (17/giêng,Giáp Ngọ) tại trường Kinh Tế-KT Tây Ninh có buổi họp cưu GS và HV .NLS Tây Ninh các khóa từ 1965....
Sáng CN ,lúc 6g  các thầy cô Lê Quan Ngay,Nguyễn Điền Tuấn,Nguyễn Vân An,Trần văn Tây,Pham thị Hòa, Hoa(hs.NLSk.2)  đã có mặt trước siêu thị Sai gòn và lên xe  7 chỗ do Trương Chí Lạc (k.2) lái trực chỉ TN
Xe đến nơi khoãng  hơn 8 giờ..
Mọi người vào hội  trường lúc hơn 9 giờ..
Năm nay nhiều vị cựu GS ko đến được vì bận những việc khác nhau.Thầy cô hiện diện có: Bành văn Sinh,,Nguyễn văn Sỷ,Ngô thiếu Sơn,Hà văn De,Nguyễn Điền Tuấn,Nguyễn văn Nhơn,Lý văn Rỡ,Lê Quan Ngay,Nguyễn Vân An,Nguyễn văn Đôi,Trần Minh Thấu,Trần văn Tây,Phạm thị Hòa,Hồ kim Huệ,Nguyễn Kim Xuyến.Trong đó thầy Tây và cô Huệ lần đâu tham dự.Các vị khách mời là cựu GS Bùi Châu Dương (trường NLS Bình Dương) và Ban Giám hiệu trường TH.Kinh tế-KT .TN.
Dẫn chương trình :Pham thị Ngọc Huệ (k.3).
Sau những nghi thức thường lệ,báo cáo tài chính (ban điều hành có lo được 50 triệu đồng làm học bổng cho các hs.TC Kinh tê-KT.TN.,Nguyễn văn Huynh (k.1) chịu trách nhiệm),mọi người dành một phút mặc niệm tưởng nhớ đến  các thầy cô và cựu hs.đã tạ thế .
Năm 2013,có cô Khưu Kim Liên,hs Nguyễn văn Hiệp,Võ Bá Tãi,Khương Thành Nên đã qua đời.
Sau đó là phần văn nghệ cây nhà lá vườn do Nguyễn văn Mười (Căn nhà ngoại ô), Lê Quốc Sơn (Thu hát cho người),Nguyễn Quốc Đông trình bày một bài hát do chính Đông sáng tác là bài "Nhớ Long Hoa",Võ văn Thênh (Đường Xưa lối cũ),Ngọc Minh (Nắng Chiều), Nguyễn Hoàng Vũ (Hoa học trò) và Trương Quang Lộc,Nguyễn văn Tạo,Nguyễn Quốc Nam với sáng tác chính mình là " Chuyện chúng mình 3 đứa"..(thơ Nguyễn văn Tạo,Trương quang Lộc phổ nhạc)
Đại diện các khóa lần lượt lên  nói cảm nghĩ1  chúc Tết Thầy Cô và các bạn
Sau đây là 1 số hình ảnh:
 Các cựu Giáo sư
các khóa: : 1
khóa 2 .
khoá 3.
k.4
khoá.5

Nguyễn thị Ngọc Sương từ Pháp về đại diện k.1 phát biểu
BTC tặng Ngọc Sương 1 bức thư pháp do Nguyễn Minh Đạo k.1 viết và 1 dĩa CD nhạc của thầy Đặng lê Hùng.
Nguyễn thị Kim Tư k.4.
Sau phát biểu,Kim Tư phải lên xe về Cà Mau liền vì chú em vừa qua đời.Xin chia buồn cùng gia đình Kim Tư.
Sau đó  đến Huỳnh Hửu Vy,đại diện k.3,Nguyễn văn Hiệp,đại diện khóa 2...
Võ văn Thênh,đại diện khóa 5 chúc Tết Thầy cô và hát tặng 1 bài(Đường xua lối cũ).

Bùi thị Bích Nga (k.1)  nhờ Ngọc Huệ gửi lời thăm và cám ơn Thầy Cô,bạn bè qua điện thoại
Trần kim Nhung chúc mừng và cám ơn Thầy Cô và các bạn hết sức giúp đỡ em năm 2008,bị bướu cổ nặng..Em có nhắc chi tiết là thầy Bùi Tho đã bán đấu giá bộ tách trà để giúp em.Hiện nay sức khỏe đã bình thường.
HS.NLS Tây Ninh Nguyễn thị Sen tặng lại thầy Bùi Châu Dương 1 cuốn sách về lâm nghiệp do thầy viết năm 1970,hiện nay đã mất bản chính.( Lâm học toát yếu)
Thầy Bùi Châu Dương.,GS trường NLS Bình Dương

BTC tặng quà thầy cô.
.
Hà thế Mạnh báo cáo tài chính
Ban nhạc.

Tác giã: Nguyễn Quốc Đông hát."Nhớ Long Hoa'"
MC; Ngọc Huệ và thầy Trần Minh Thấu(đeo kinh),Trần văn Tây

Thầy Trần Minh Thấu,một trong 4 người GS đầu tiên của NLS.TN cảm xúc làm một bài thơ tại chỗ gửi tặng học trò cũ:
Giây phút chạnh lòng.
Trong giây phút tâm tình thầy nhắn gửi.
Những yêu thương thắm thiết của lòng tôi.
Rằng: Mai đây có vật đỗi sao dời.
Tình "Thầy-Bạn"không đổi dời gang tấc.
Hãy cùng nhau tâm niệm  để yêu thương.
Để hàng năm hãy về đây họp mặt.
Kể cho nhau những mưa nắng cuộc đời.
Để sống lại những phút giây niên thiếu...
Ôi ! Kỷ niệm đó là những điều kỳ diệu...

Sau khi dùng cơm trưa,thầy trò cùng nhau chụp ảnh để kỷ niệm buổi gặp gỡ hiếm có nầy.

Buổi họp chấm dứt lúc 2 g trưa,sau đó có 1 cuộc họp nhỏ tại nhà Tô Kim Lang của nhóm k.2...
Nguyễn Minh Đạo còn tranh thủ viết tặng Thầy Cô và các bạn những bức chữ thư pháp.
Gần 3 g chiều,lên ra về mà  lòng còn rất lưu luyến.Thời gian  ngắn quá,có nhiều điều chưa nói hết
 Hôm nay, nhiều Thầy Cô và cựu học sinh vì những lý do khác nhau không đến dự được nhưng những kỷ niệm về những tháng ngày chung sức bên nhau học tập vẫn còn  đầy ắp... 
Chúc sức khỏe mọi người.Mong cho Thầy Cô và các em dù ở nơi đâu cũng giữ và nhớ tinh thần NÔNG LÂM SÚC...Hẹn nhau tái ngộ vào năm tới

(Hình ảnh:Tô Kim Lang,Ngọc Huệ)




Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

Thơ Nguyễn Thị Châu - THƠ TÌNH CHO AI ....?


Thơ Tình Cho Ai - Nguyễn Thị Châu

Tôi hứa yêu ai hết một đời
Nhưng tình nay đã quá xa xôi !
Người đi hôm ấy không về nữa
Mượn chút tình thơ để nhớ người

Trăng khuya lơ lững cũng thấy buồn
Trăng nghe ai oán giọt lệ tuông
Trăng ơi ! Hãy cài trên song cửa
Tôi ngắm nhìn trăng đỡ nhớ thương

Ai về ngoài ấy có nhớ tôi ?
Tôi lại nhớ ai nhớ cả đời
Nửa đêm tỉnh giấc lòng thổn thức
Ôm nỗi niềm riêng tôi với tôi

Trăng đã đi rồi ai biết không ?
Bỏ lại mình tôi với nỗi lòng
Người đã xa rồi ai vương vấn ?
Nghe gió đâu đây lạnh cô phòng

Tôi người cô lẻ sống tha phương
Vay mượn tình ai của đời thường
Mượn gió mượn trăng qua ngày tháng
Để rồi bi luỵ thiếu tình thương .

Vần thơ tôi chép lại đôi lời
Mong người bên ấy hiểu dùm tôi
Một kiếp hồng nhan đầy sóng gió
Một thoáng ra đi chuyện đã rồi !

17-8-2021
Nguyễn thị Châu




Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

BẾN CẦU QUÊ TÔI- Thơ Nguyễn thị Châu


BẾN CẦU QUÊ TÔI
🌷🌷
Ai có về lại Bến Cầu không ?
Cho tôi nhắn nhủ lại đôi dòng
Quê hương tôi đó ngày hôm ấy
Thảm ruộng lúa vàng trãi đầy đồng
Con sông Vàm Cỏ chia nhiều nhánh
Có con đò nhỏ khách sang sông
Đưa ta đến những vườn xanh mát
Vang tiếng ngày xưa vùng Ngủ long
Long Thuận , Long Khánh ,Long Giang đó
Long Chữ ,Long Phi ngoãnh lại nhìn.
Bàu Tràm , Tiên Thuận chim sảy cánh
Lơi Thuận đi ra nhớ bưng xình
Mộc Bài nhìn qua biên giới bạn .
Gió bay đêm lại ánh trăng sầu
Trăng về An Thạnh buồn thương nhớ
Yêu mến quê tôi huyện Bến Cầu .!
 
12-1-2022
Nguyễn thị Châu.



Mời Xem :  HẠT CÁT thơ Nguyễn thị Châu

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2018

Nhà Thơ TTKh Là Ai ?

   
                             T.T.Kh là ai?
       Những ai yêu thơ, nhứt là loại thơ tình lãng mạn, cũng đều đã đọc qua những bài thơ nổi tiếng của thi sĩ mang bút danh T.T.Kh.
       Nhưng T.T.Kh là ai?
       Sau một thời gian dài tìm hiểu và truy tầm tung tích, qua nhiều chứng cứ, người ta đã tiên đoán và tìm ra được bí mật của thi sĩ lãng mạn T.T.Kh nầy, lần lần cũng tạm gọi là khá chính xác. Theo đó xin trình bày lần lượt như sau:
       T.T.Kh lúc đầu được xem là bút hiệu của một nhà thơ đã từng ẩn danh trong phong trào Thơ mới (1930–1945), tên thật là Trần Thị Khánh. Bà là tác giả bài "Hai sắc hoa Ti-gôn" nổi tiếng nhất.
      Vào khoãng tháng 7 năm 1937, tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy ở Hà Nội có đăng truyện ngắn "Hoa Ti gôn"của nhà văn Thanh Châu. Khoãng 2 tháng sau, thì "Tòa soạn nhận được một phong bì dán kín do một thiếu phụ trạc 20 tuổi, dáng bé nhỏ, thùy mị, nét mặt u buồn mang đến gửi cho chủ bút tờ báo trên, trong ấy chỉ vỏn vẹn có bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”, dưới ký tên tác giả là T.T.Kh...Có thể nói đây là lần duy nhất người thiếu phụ ấy xuất hiện".... Trong bài thơ đó có những câu sau:
...Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi.
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng một người...  
      Bà Trần Thị Khánh chính là người yêu của nhà thơ trẻ Thâm Tâm. Hai người yêu nhau, lúc đó bà 17 tuổi; còn Thâm Tâm 19. Nhưng biết không lấy được nhau, cả hai hẹn giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này.   
      T.T.Kh chỉ đăng trên tờ Tiểu thuyết thứ Bảy có 3 bài thơ, đó là: "Hai sắc hoa Ti-gôn" (đăng ngày 23 tháng 9 năm 1937). Bà Trần Thị Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy in truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu (số tháng 9-1937) xúc động, tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn.
      Rồi "Bài thơ thứ nhất" (đăng ngày 23 tháng 11 năm 1937). Bài thơ “Hai sắc hoa Ti-gôn” in ra gây xôn xao trong làng văn chương như ông Hoài Thanh ghi nhận. Tiếp đó để giải thích lý do viết bài Hai sắc hoa ti-gôn, T.T.Kh. gửi đến Tiểu thuyết thứ bảy một bài nữa, với tiêu đề là Bài thơ thứ nhất và viết tặng riêng Thâm Tâm về bài thơ Đan áo.
      Rồi "Bài thơ cuối cùng" (đăng ngày 30 tháng 10 năm 1938). Ông Thâm Tâm hồi ấy còn trẻ, với tính hiếu thắng của tuổi trẻ, ông đã gửi báo Phụ nữ đăng bài thơ Đan áo để minh chứng với thiên hạ rằng T.T.Kh chính là người yêu của mình. Tất nhiên vì không có sự đồng ý của T.T.Kh. và thế là T.T.Kh đã giận ông Thâm Tâm, cô viết bài thơ lấy tiêu đề “Bài thơ cuối cùng” gửi đăng ở Tiểu Thuyết Thứ Bảy, có vẻ vừa hờn vừa giận đầy yêu thương, và cũng từ đấy tên tuổi T.T.Kh "tắt lịm" trên thi đàn mãi cho đến ngày nay.
      Một tài liệu mới đây có ghi lại: Câu chuyện bắt đầu cách đây 70 năm, ngày 27/9/1937 trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 174 xuất bản tại Hà Nội, có đăng truyện ngắn Hoa ti gôn của Thanh Châu, nội dung kể lại mối tình tan vỡ của đôi trai gái ngày trước đã hò hẹn dưới giàn hoa ti gôn. Ít lâu sau, có người đàn bà trẻ, dáng dấp bé nhỏ, nét mắt u buồn, mang đến tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy một phong bì dán kín, gửi cho ông chủ bút, trong có bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, ký tên TTKh. Bài thơ Hai sắc hoa ti gôn được đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 179, ra ngày 30/10/1937, và sau đó còn ba bài nữa cũng ký tên TTKh được gửi bằng đường bưu điện đến tòa soạn:  
- Bài thơ thứ nhất, Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 182 (20/11/1937).
- Đan áo cho chồng, đăng trên Phụ Nữ Thời Đàm.
- Bài thơ cuối cùng, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 217 (23/7/1938).
      Ngay khi Hai sắc hoa ti gôn ra đời, giới văn nghệ sĩ đã xôn xao, thi sĩ J. Leiba, người cùng tâm sự với TTKh và là tác giả hai câu thơ nổi tiếng "Người đẹp vẫn thường hay chết yểu. Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai", chép lại nguyên văn bài Hai sắc hoa ti gôn trên Ngọ Báo với lời mở đầu: 
Anh chép bài thơ tự trái tim,
Của người thiếu phụ lỡ làng duyên.
Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ,
Yên ủi anh và để tặng em.
       Nhà thơ Nguyễn Bính sau khi đọc Bài thơ thứ nhất đã viết bài Dòng dư lệ để tặng TTKh, in lại trong tập Lỡ bước sang ngang và Thâm Tâm cũng có ba bài Màu máu ti gôn, Dang dở và Gửi TTKh, và nhiều thế hệ sau còn có những bài thơ khác nữa cũng sụt sùi thương cảm cho số phận của nàng TTKh.
       Được biết sau nầy, người quen biết bà Trần thị Khánh (T.T.Kh?) có nói là bà Khánh về sống âm thầm với gia đình ở tỉnh Thanh Hóa, không biết bây giờ bà còn hay mất. Nếu nay còn, bà có lẽ đã trên 95 tuổi rồi vì năm 1937 bà đã 17 tuổi.
Ngôn từ mới “Người ấy là ai?”. 
       Trong văn xuôi Việt Nam, hai chữ “người ấy” đã được Nguyễn Trọng Quản dùng để chỉ “người tình” trong truyện ngắn Thày Lazaro Phiền từ 1887. Vậy Nguyễn Trọng Quản là người đầu tiên đưa danh từ Người ấy vào trong văn Việt. Và Thanh Châu xướng lên hình ảnh Hoa ti gôn trong truyện ngắn đăng trước bài thơ của TTKh một tháng, trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. 
      Nhưng tác giã TTKh là người đầu tiên sử dụng hai chữ "người ấy" và hình ảnh "Hoa ti gôn" vào thơ, như một hình tượng nghệ thuật mơ hồ và phiếm định về người tình và cuộc tình tan vỡ. Về mặt tâm lý xã hội, người đàn bà có chồng những năm 1936 - 1937, mấy ai dám nói đến người tình một cách công khai? TTKh đã viết nên những lời tâm sự của bao nhiêu người đàn bà cùng cảnh ngộ ngang trái, sống trong xã hội Khổng Mạnh đầu thế kỷ:
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi.
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng "một người".
      Nhậy báo Sống tại thành phố Sài gòn số ra ngày 15/4/1967, ông Nguyễn Tố, xác định đã từng sống chung với nhà thơ Thâm Tâm năm 1936, cùng với Trần Huyền Trân, Vũ Trọng Can. Ông cho biết: Thâm Tâm có mấy bài thơ ký tên TTKh như bài Hai sắc hoa ti gôn. Lúc đó Trần thị Khánh là người mà Thâm Tâm yêu say đắm. Lúc cô Khánh đi lấy chồng, Thâm Tâm đau khổ gần như phát điên. Lũ chúng tôi vừa giễu cợt, vừa khuyên lơn. Chính trong thời gian thất tình, Thâm Tâm viết được mấy bài thơ ký tên ẩn danh là TTKh, ngầm ý viết tắt lấy tên của Trần thị Khánh, để nhớ về người yêu của ông.
      Nhưng ngược lại, trong báo Nhân Loại, bộ mới số 108 ra tháng 7 năm 1958 cũng tại Sàigòn, ông Anh Đào lại đưa ra một giai thoại mới trong giai thoại này. Theo ông, cũng nói do “chính Thâm Tâm” kể lại. Ông Anh Đào nói rằng: Năm 1941, trong một đêm thu lạnh lẽo, ông được ngồi giữa hai nhà thơ Nguyễn Bính và Thâm Tâm bên một bàn đèn thuốc phiện và chính ông được nghe Thâm Tâm tâm sự. Thâm Tâm nói rằng: “TTKh là tên một thiếu phụ mà trước kia tôi yêu”. Và Thâm Tâm xác định những bài thơ đăng trên báo là của nàng, và ông Anh Đào kết luận rằng Thâm Tâm xứng đáng là "người ấy" của TTKh. 
       Cuối cùng, mãi đến năm 1969, ở miền Nam, thi sĩ kiêm văn sĩ Nguyễn Vỹ -vốn là người đã ra làm báo trước 1945 ở Hà Nội- là bạn của Thâm Tâm, đã viết đến 15 trang (từ trang 253 đến trang 267) trong “Văn-Thi-sĩ tiền chiến” (Nxb Khai Trí -1969) kể lại khá tỉ mỉ một chuyện tình: Khoảng tháng 2/1936, lúc bấy giờ Thâm Tâm là thi sĩ kiêm họa sĩ (họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình), mới 19 tuổi làm quen với cô gái tên Trần Thị Khánh 17 tuổi, nhà ở phố Sinh Từ, Hà Nội nơi vốn được trồng nhiều antigone (hoa ti gôn). Nhà cô Khánh cũng gần vườn Thanh (THANH GIÁM: miếu thờ Khổng Tử được xây từ thời nhà Lý, lúc bấy giờ ngoài tên Temple de Confucius Pháp vẫn hay gọi nơi này là Pagode des corbeaux - chùa Quạ). Thâm Tâm hò hẹn tại nơi đây được hai lần thì cô Khánh bỏ đi lấy chồng - một người chồng giàu có - khiến Thâm Tâm vô cùng đau khổ. Để đỡ niềm yêu nhớ đơn phương, bớt mặc cảm vì bị người yêu phụ rẫy và cũng để làm cho mấy người bạn khỏi chế nhạo, đùa bỡn, chính Thâm Tâm đã thức suốt một đêm làm bài thơ Hai sắc hoa ti gôn rồi nhờ một cô em họ, con của một bà cô ở phố Cửa Nam chép bằng nét chữ con gái, bỏ vào bì niêm kín mang đến gửi tại tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bảy. 
       Trong những trang sách này, Nguyễn Vỹ cũng đã khẳng định chắc chắn rằng “Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả!” Có người còn nói cô Khánh mới học đến lớp 4. Tất cả những bài thơ ký tên T.T.Kh. đều do Thâm Tâm làm và gửi đăng báo. 
       Đọc kỹ những trang viết của Văn-thi-sĩ tiền chiến, ta hình dung được đây là những kỷ niệm kể khá chân thực qua hồi ức nhiều năm tháng của một đời làm báo. Chỉ tiếc một điều là Nguyễn Vỹ, người bạn thân thiết của Thâm Tâm đã ra đi bởi tai nạn xe ở Long An năm 1971. Nguyễn Vỹ đã xác nhận: Cô Khánh không biết làm thơ. Và theo lời Tuấn Trình (tên thật của nhà thơ Thâm Tâm), cô Khánh ghét những bài thơ của Thâm Tâm. Sau khi nhận được bức thư cuối cùng của Khánh, trong thư Khánh tỏ ý không bằng lòng, vì biết Tuấn Trình đã mượn tên cô để làm thơ kể lễ chuyện tình duyên cũ trên báo, có thể làm hại đến cuộc đời của cô (lúc nầy cô đã có chồng và sống hạnh phúc). Trong lá thư phản đối đó, cô Khánh xưng “tôi” với Thâm Tâm, chứ không còn xưng “em” nữa. Thâm Tâm lấy lại những lời, những chữ trách móc giận dữ của Khánh trong thư để làm “Bài thơ cuối cùng” cũng ký tên TTKh, với những câu:
Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy,
Mà viết tình em được ích gì?
                    *
Bài thơ “Đan áo” nay rao bán,
Cho khắp người đời thóc mách xem.
Là giết đời nhau đấy biết không?
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung.
Giận anh em viết dòng dư lệ,
Là chút dư hương điệu cuối cùng.
Từ nay anh hãy bán thơ anh,
Còn để yên tôi với một mình.
       Có thể nhiều tác giã sau nầy cũng đồng ý TTKh là Thâm Tâm và hỏi có phải chàng thi sĩ Thâm Tâm vì sĩ diện và lòng tự ái trong cảm xúc đau khổ tột cùng cuả sự mất mát hụt hẫng mà viết ra ra thơ chăng? Bình thường ra làm thơ rất khó nếu không phải là loại người đa cảm đa tình và biết qua một số nguyên tắc làm thơ, sẽ ngẫu nhiên tuôn ra thay cho những dòng nước mắt. Chàng đã viết ra 4 bài thơ tình và ký tên T.T.Kh, còn nhờ em gái mình, hay một cô gái nào đó chép lại và tự mang đến toà soạn để khỏi bẽ mặt mình. Cả 4 bài thơ này rất hay, cảm xúc dạt dào bi ai, sầu cảm vô cùng. Nhưng xin phép thưa với các bạn: Theo tôi nghệ thuật chưa phải vào hàng cao thủ như các ông Tản Đà, Nguyễn Bính, Hồ Dzech thời bấy giờ trong loại thơ 7 chữ. Lục bát cũng có giới hạn cuả nó. Nhiều người làm thơ lưu loát, điêu luyện hơn nhưng vẫn không dễ gì đi vào lòng người bằng những câu những chữ bình dân, mộc mạc của tác giả TTKh. Tác giả cũng tỏ ra là người thành thạo trong loại thơ 7 chữ cách gieo vần tương đối chuẩn theo dạng thơ tứ cú, nhiều người gọi là thơ tứ tuyệt viết theo lối mới không có đối chữ.   
      Xuyên qua các nguồn tài liệu đã xác định như trên, rõ ràng TTKh chính là bút hiệu ẩn danh của Thâm Tâm và Thâm Tâm người viết thay cho người tình xưa mang tên Trần thị Khánh (TTKh) để nhớ đến cuộc tình lãng mạn, đầy nước mắt của hai người. Nhưng chính những giọt nước mắt nầy đã tạo ra những áng thơ lãng mạn xuất sắc nhứt mở đầu cho phong trào thơ văn tình lãng mạng của Việt nam ở thế kỹ 20.
      Sau đây là 4 bài thơ chính của TTKh:

1- BÀI THƠ CUỐI CÙNG
Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ!
Một mùa thu cũ, một lòng đau...
Ba năm ví biết anh còn nhớ,
Em đã câm lời có nói đâu!

Ðã lỡ, thôi rồi! Chuyện biệt ly,
Càng khơi càng thấy luỵ từng khi.
Trách ai mang cánh "ti-gôn" ấy,
Mà viết tình em, được ích gì?

Chỉ có ba người đã đọc riêng,
Bài thơ “đan áo” của chồng em.
Bài thơ “đan áo” nay rao bán,
Cho khắp người đời thóc mách xem...

Là giết đời nhau đấy, biết không?
...Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung,
Giận anh, em viết dòng dư lệ,
Là chút dư hương: điệu cuối cùng!

Từ nay, anh hãy bán thơ anh,
Còn để yên tôi với một mình,
Những cánh hoa lòng, hừ! Đã ghét,
Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi...
Buồng nghiêm thơ thẩn hồn eo hẹp,
Ði nhớ người không muốn nhớ lời!

Tôi oán hờn anh, mỗi phút giây,
Tôi run sợ viết, bởi rồi đây.
Nếu không yên được thì tôi... chết,
Ðêm hỡi! Làm sao tối thế này?

Năm lại năm qua cứ muốn yên,
Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín,
Lại chính là anh, anh của em!

Tôi biết làm sao được hỡi trời?
Giận anh, không nỡ! Nhớ không thôi!
Mưa buồn, mưa hắt, trong lòng ướt...
Sợ quá đi, anh... “có một người”!...

2- BÀI THƠ THỨ NHỨT:
Thuở trước hồn tôi phơi phới quá,
Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương...
Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại,
Êm ái trao tôi một vết thương.

Tai ác ngờ đâu gió lại qua,
Làm kinh giấc mộng những ngày hoa.
Thổi tan tâm điệu du dương trước,
Và tiễn người đi bến cát xa.

Ở lại vườn Thanh có một mình,
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh;
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo,
Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.

Và một ngày kia tôi phải yêu,
Cả chồng tôi nữa lúc đi theo.
Những cô áo đỏ sang nhà khác,
Gió hỡi! Làm sao lạnh rất nhiều?

Từ đấy không mong không dám hẹn,
Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm.
Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ,
Người ấy ghi lòng: “Vẫn nhớ em!”

Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên,
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim.
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ,
Rỏ xuống thành thơ khóc chút duyên?

Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ,
Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ!
Tóc úa giết dần đời thiếu phụ...
Thì ai trông ngóng, chả nên chờ!

Viất đoạn thơ đầu lo ngại quá,
Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:
“Cố quên đi nhé, câm và nín,
Đừng thở than bằng những giọng thơ!”

Tôi run sợ viết, lặng im nghe,
Tiếng lá thu khô xiết mặt hè.
Như tiếng chân người len lén đến,
Song đời nào dám gặp ai về!

Tuy thế tôi tin vẫn có người,
Thiết tha theo đuổi nữa, than ôi!
Biết đâu... tôi: một tâm hồn héo,
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.
(Từ Tiểu thuyết Thứ Bảy số 182, ngày 20-11-1937)

3- ĐAN ÁO CHO CHỒNG:  
Chị ơi! Nếu chị đã yêu,
Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương.
Đã xa hẳn quãng đời hương,
Đã đem lòng gởi gió sương mịt mùng.

Biết chăng chị? Mỗi mùa đông,
Đáng thương những kẻ có chồng như em.
Vẫn còn thấy lạnh trong tim,
Đan đi đan lại áo len cho chồng.

Như con chim hót trong lồng,
Hạt mưa nó rụng bên sông bơ thờ.
Tháng ngày nổi tiếng tiêu sơ,
Than ôi! Gió đã sang bờ ly tan...

Tháng ngày miễn cưỡng em đan,
Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.
Như con chim nhốt trong lồng,
Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao!

Ngoài trời mưa gió xôn xao,
Ai đem khoá chết chim vào lồng nghiêm?
Ai đem lễ giáo giam em?
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời...
Lòng em khổ lắm chị ơi!
Trong bao tủi cực với lời mỉa mai.
Quang cảnh lạ, tháng năm dài,
Đêm đêm nghĩ tới ngày mai giật mình!
(Trích Phụ Nữ Thời Đàm; ngày 23-7-1938)

4- HAI SẮC HOA TI GÔN:
Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn,
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn. 
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc, 
Tôi chờ người đến với yêu đương.    

*
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong.
Và phương trời thẳm mờ sương, cát, 
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng. 
   
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi, 
Thở dài trong lúc thấy tôi vui. 
Bảo rằng: "Hoa, dáng như tim vỡ, 
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!"
 
Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì,
Cánh hoa tan tác của sinh ly. 
Cho nên cười đáp: "Màu hoa trắng,
Là chút lòng trong chẳng biến suy".
    
Đâu biết lần đi một lỡ làng, 
Dưới trời đau khổ chết yêu đương. 
Người xa xăm quá! - Tôi buồn lắm, 
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường... 
   
Từ đấy, thu rồi, thu lại thu, 
Lòng tôi còn giá đến bao giờ. 
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ... 
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ. 

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi. 
Mà từng thu chết, từng thu chết, 
Vẫn giấu trong tim bóng "một người".    

Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết,
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa. 
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ,
Và đỏ như màu máu thắm pha! 

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi,
Một mùa thu trước rất xa xôi... 
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã, 
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!  
  
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ, 
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu. 
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng, 
Người ấy sang sông đứng ngóng đò. 

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không? 
Có thầm nghĩ tới loài hoa... vỡ 
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?
  • T.T.Kh
(Tiểu thuyết thứ bảy, số 179, ngày 30-10-1937)
     Chính 4 câu thơ cuối của bài thơ Hai sắc hoa Ti-gôn nầy đã soi thấu và đâm thủng bao nhiêu trái tim của người yêu thơ cũng như các người thất tình, khiến nó trở nên áng thơ tình lãng mạng hấp dẫn nhất trong lịch sử Làng Thơ Lãng Mạn Việt nam. Người sưu tầm tài liệu nầy cũng không khỏi không xúc động mà nãy ra mấy câu hội ngộ cùng tác giã TTKh để kết thúc tài liệu nghiên cứu nầy.
Nếu biết rằng em đã có chồng,
Tôi thà để lạnh trái tim đông.
Từ nay chẳng dám cho tim hở,
Khóa chặt thương đau lánh bóng hồng!
                                        (Hồ Nguyễn)   
____

Bài viết do Hồ Xưa sưu tầm từ nhiều nguồn:
1- Wikipedia.vn
2- Tiểu thuyết thứ bảy, số 179 (ra ngày 30-10-1937 
3- Tiểu thuyết thứ bảy, số 182 (ra ngày 20-11-1937)
4- Phụ nữ thời đàm.
5- Tiểu thuyết thứ bảy, số 217 (ngày 23/07/1938)
6- Tiểu thuyết thứ bảy, số 307 (ngày 04/05/1940)
7- Thi nhân Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học- 2005


                                            __________________________________
Ảnh nhà thơ Thâm Tâm từ THI VIỆN

TRÀ NGUỘI -Thơ kiều Mộng Hà và Thơ Họa

TRÀ NGUỘI Chớp mắt còn chi!!! Tiệc đã tàn Cố quên vết xước của thời gian Người đi trà nguội tình sương khói Bướm vắng hoa tàn mộng dở dang N...