Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2016

BS cảnh báo căn bệnh dù lành tính nhưng lại nguy hiểm như ung thư

Bác sĩ, Tiến sĩ Dương Học Đông (TQ) đã viết bài cảnh báo về căn bệnh ít người chú ý nên lại nguy hiểm đến sức khỏe tương đương ung thư. Chúng ta nên cảnh giác để phòng bệnh.


Lao xương cũng nguy hiểm như ung thư
Có một bệnh nhân là nam giới tuổi trung niên, vừa nhập viện trong trạng thái đau bụng dai dẳng sau khi ăn món ăn lạnh.
Các bác sĩ BV khoa học Trung y (TQ) đã làm xét nghiệm và siêu âm, kết luận ban đầu là bị viêm túi mật nhẹ, loại trừ tắc nghẽn. Nhưng sau khi tiến hành các phác đồ điều trị bệnh viêm túi mật thì các triệu chứng của bệnh đã không thuyên giảm.
Một tuần sau, khi chụp CT xem xét lại các cột sống thắt lưng, các bác sĩ cho biết xương thứ hai và thứ ba ở vùng thắt lưng bệnh nhân đã bị phá huỷ, đĩa đệm thu hẹp đáng kể, mô mềm liền kề đốt sống sưng dày lên.
Bác sĩ tiến hành phân tích toàn diện, xem xét và kết luận ông bị bệnh lao cột sống. Khi mắc bệnh này xương sẽ bị ăn mòn, mềm yếu, biến dạng.
Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh lao đã và đang tăng lên nhanh chóng, bao gồm cả bệnh lao xương, lao ruột, lao thận, lao phổi
Trong đó bệnh lao xương có tỷ lệ cao nhất bởi chúng rất dễ bị lây lan từ phổi sang. Vì vậy, các bệnh nhân có vấn đề về lao phổi cần phải chụp CT để biết có bị lây sang bệnh lao xương hay không.
BS cảnh báo căn bệnh dù lành tính nhưng lại nguy hiểm như ung thư - Ảnh 1.
Hình ảnh bệnh lao thâm nhập vào xương do bác sĩ Dương Học Đông cung cấp (Nguồn Health/TT)
BS cảnh báo căn bệnh dù lành tính nhưng lại nguy hiểm như ung thư - Ảnh 2.
Hình ảnh bệnh lao thâm nhập vào xương do bác sĩ Dương Học Đông cung cấp (Nguồn Health/TT)
Một số triệu chứng bệnh
Biểu hiện điển hình nhất là sốt vào các buổi chiều, lao, ho, sụt cân không rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, trong quá trình khám lâm sàng, nhiều bệnh nhân mắc lao nhưng lại không có triệu chứng về hô hấp, không sốt, không ho.
BS cảnh báo căn bệnh dù lành tính nhưng lại nguy hiểm như ung thư - Ảnh 3.
Bài viết của Tiến sĩ, bác sĩ Dương Học Đông, Phó Trưởng khoa Phóng xạ, BV Trung Y Trung Quốc
Đa phần các bệnh nhân nhập viện với một triệu chứng bệnh khác, trong quá trình kiểm tra mới biết đó là bệnh lao. Ví dụ, trong trường hợp này, bệnh nhân mắc bệnh phổi không nghiêm trọng, nhưng nó đã lan đến cột sống thắt lưng.
Các nguyên nhân gây ra bệnh lao xương xuất phát từ nhiều yếu tố như khả năng miễn dịch kém, người nghèo, điều kiện sống thiếu thốn, chế độ ăn uống không phù hợp, thói quen xấu… đều có sự gia tăng trong những năm gần đây với tỷ lệ mắc bệnh lao cao.
Sự phát triển nhanh chóng của bệnh nhân lao cột sống khiến các bác sĩ lo lắng và cần phải cảnh báo sớm để cộng đồng có thể hiểu hơn về căn bệnh này.
Qua trường hợp này, các bác sĩ mong muốn người dân cần đề cao cảnh giác rằng, ngoài ung thư, phòng chống bệnh lao là rất quan trọng, bởi sự phổ biến và nguy hiểm lớn đến sức khỏe.
Lời khuyên của các bác sĩ là, hãy cố gắng hạn chế đến những nơi đông người, không gian phòng ở nên thoáng mát, thông gió, duy trì chế độ ăn uống khoa học.
Không nên thức khuya, chịu khó tập thể dục phù hợp để duy trì khả năng miễn dịch, thường xuyên hoạt động ngoài trời và giữ một cuộc sống lành mạnh.
BS cảnh báo căn bệnh dù lành tính nhưng lại nguy hiểm như ung thư - Ảnh 4.
Hình ảnh thực hiện can thiệp y tế vào xương (Nguồn Health/TT)
*Theo Health/TT

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2016

Thơ Về Mùa Thu - Khôi Nguyên

                  
            
             Mùa Thu

         Có gió heo may, lá đổi màu,
         Mùa thu se lạnh lướt qua mau.
Thu tâm thi hứng tràn chân tóc,
Thu cảm hồn thu ngập đỉnh đầu.
Mây tím ráng hồng khi nắng xuống,
Trăng thanh sao tỏ suốt canh thâu.
Mưa Ngâu rả rich rơi dai dẳng,
Chức Nữ Ngưu Lang đổ lệ sầu.

                       Khôi Nguyên
                     ******  


                Trăng Thu

Trung Thu trăng sáng đến bên thềm,
Nguyệt Quế, Thiềm Cung nhạc trổi êm.
Chú Cuội lăng xăng, lo tất bật,
Hằng Nga diễm lệ, ngắm tăng thêm.
Nghê Thường, điệu múa, thân ngây ngất,
Ngọc Thố, bước chân, dáng dịu mềm.
Đủ loại lồng đèn, lân giỡn địa,
Thiếu Nhi vui Tết, thức thâu đêm.

                   Khôi Nguyên
                      ******


             
         Thu Sầu

Tầng xanh, lá đỏ lẫn vàng nâu,
Bắc Mỹ trời thu sắc dẫn đầu.
Nắng chiếu cây yên, soi bóng nước
Mây bay lá rụng, lạc nơi đâu?
Mưa Ngâu như thác, rơi thành lệ,
Ô Thước thương tâm, nối nhịp cầu.
Chức Nữ, Ngưu Lang ly cách mãi,
Không vui nên mới gọi Thu Sầu.

                Khôi Nguyên

Chiếc Áo Dài Việt Nam : Áo Dài Tín Đồ Cao Đài

1- LỊCH SỬ:
        Áo dàitrang phục truyền thống của Việt Nam, mặc cùng với quần dài, che thân từ cổ đến hoặc quá đầu gối và dành cho cả nam lẫn nữ nhưng hiện nay thường được biết đến nhiều hơn với tư cách là trang phục phụ nữ. Áo dài thường được mặc vào các dịp lễ hội, trình diễn; hoặc tại những môi trường đòi hỏi sự trang trọng, lịch sự; hoặc là đồng phục nữ sinh tại một số trường trung học cơ sở hay đại học; hoặc đại diện cho trang phục quốc gia trong các quan hệ quốc tế. Các người đẹp Việt Nam hầu hết đều chọn áo dài cho phần thi trang phục dân tộc tại các cuộc thi sắc đẹp quốc tế.

       Trước đây, áo dài thường được mặc kết hợp cùng với nón quai thao, nón lá, hay là khăn đóng. Nhưng kiểu sơ khai nhất của chiếc áo dài là chiếc áo giao lãnh. Chúa Nguyễn Phúc Khoát là người được xem là có công sáng chế chiếc áo dài và định hình chiếc áo dài Việt Nam. Chính do sự di cư của người Minh Hương mà chúa Nguyễn Phúc Khoát đã cho ra đời chiếc áo dài giao lãnh để tạo nét riêng cho dân tộc Việt.
ân.
Tổng hợp 10 chiếc áo dài đẹp nhất cho chị em

        Danh từ "Áo dài" (ao dai /ˈaʊ ˌdʌɪ/) được đưa nguyên bản vào từ điển Oxford và được giải thích là một loại trang phục của phụ nữ Việt Nam với thiết kế hai tà áo trước và sau dài chấm mắt cá chân che bên ngoài chiếc quần dài.

        Căn cứ theo những chứng liệu này, có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cố định đã ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương (1739-1765). Vào thời này, các văn bản tại Việt Nam dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm.

        Một vài tài liệu quy kết việc ra đời của chiếc áo dài quốc phục là do những tham vọng riêng tư của chúa Nguyễn Phúc Khoát. Do muốn xưng vương và tách rời Đàng Trong thành quốc gia riêng, nên ban sắc dụ về ăn mặc như trên cho khác đi, không phải với người khách trú mà với Bắc triều (trong quy định này đã có cả chỉ thị phụ nữ phải mặc quần hai ống). Năm 1744 cũng là thời điểm đánh dấu sự xuất hiện của quần chân áo chít, bộ trang phục ban đầu áp dụng tại hai vùng Thuận Hóa, Quảng Nam, về sau được phổ biến rộng rãi trong toàn quốc, từng bước trở thành quốc phục của triều Nguyễn.

       Không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao vì không có tài liệu ghi nhận và chưa có nhiều người nghiên cứu. Y phục xa xưa nhất của người Việt, theo những hình khắc trên mặt chiếc trống đồng Ngọc Lũ cách nay khoảng vài nghìn năm cho thấy hình phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ. Sử gia Đào Duy Anh viết, "Theo sách Sử ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo dài về bên tả (hình thức tả nhiệm). Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu Chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu. Theo những lời sách đó chép thì ta có thể suy luận rằng trước hồi Bắc thuộc thì người Việt gài áo về tay trái, mà sau bắt chước người Trung Quốc mới mặc áo gài về tay phải".

        Kiểu sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng màu buông thả. Xưa các bà các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài; về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng. Cổ nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày. Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân (gồm bốn vạt nửa: vạt nửa trước phải, vạt nửa trước trái, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái). Áo tứ thân được mặc ra ngoài váy xắn quai cồng để tiện cho việc gồng gánh nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ.

        Áo tứ thân thích hợp cho người phụ nữ miền quê quanh năm cần cù bươn chải, gánh gồng tháo vát. Với những phụ nữ tỉnh thành nhàn hạ hơn, muốn có một kiểu áo dài được cách tân thế nào đó để giảm chế nét dân dã lao động và gia tăng dáng dấp trang trọng khuê các. Thế là ra đời áo ngũ thân với biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay được thu bé lại trở thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước. Áo ngũ thân che kín thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi thành bốn) tượng trưng cho tứ cha mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm về ngũ thường theo quan điểm Nho giáongũ hành theo triết học Đông phương. Chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Trung Hoa, cho đến thế kỷ 16 lối ăn mặc của người Việt Nam vẫn thường hay bắt chước lối của người phương Bắc, đặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong do nhu cầu khai phá khẩn hoang, đón nhận hàng vạn người Minh Hương (còn gọi là người Khách Trú hay đọc trại thành "cắc chú") bất mãn với nhà Thanh sang định cư lập nghiệp, mặc dù người Việt cũng có lối ăn mặc riêng.

         Trước làn sóng xâm nhập mới này, để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo đó thi hành. Trong sắc dụ đó, người ta thấy lần đầu tiên sự định hình cơ bản của chiếc áo dài Việt Nam, như sau: "Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép..." (sách Đại Nam Thực lục từ Thái Tổ đến nay vừa đúng con số ấy, bèn thay đổi y phục, đổi phong tục, cùng dân đổi mới, bắt đầu hạ lệnh cho nam nữ sĩ thứ trong nước, đều mặc áo nhu bào, mặc quần, vấn khăn, tục gọi quần chân áo chít bắt đầu từ đây. Trang phục nhà cửa đồ dùng hơi giống thể chế Minh Thanh, thay đổi hết thói cũ hủ lậu của Bắc Hà, thay đổi quan phục tham khảo chế độ của các triều đại Trung Quốc, chế ra phẩm phục Thường triều, Đại triều, lấy làm mô thức, ban hành trong nước, văn chất đủ vẻ, trở thành nước áo mũ văn vật vậy!.

         Tổng hợp các ghi chép vừa rồi có thể thấy, cải cách năm 1744 là một cuộc cải cách lớn về y phục cung đình chính để đặt định y phục là các sách Hội điển ghi chép điển chương chế độ của các triều đại Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh và đặc biệt là Tam tài đồ hội của Vương kỳ thời Minh. Năm 1744 cũng là thời điểm đánh dấu sự xuất hiện của quần chân áo chít, bộ trang phục ban đầu áp dụng tại hai vùng Thuận Hóa, Quảng Nam, về sau được phổ biến rộng rãi trong toàn quốc, từng bước trở thành quốc phục của triều Nguyễn.

         Cho đến thế kỷ 17 truyền thống mặc váy vẫn tồn tại ở Việt Nam như đã ghi trong sách Lê Triều Thiên Chính đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3 năm 1665 với sắc lệnh nhắc nhở: "... áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưa đến nay vốn đã có cổ tục như thế...". Vậy có thể nói rằng bộ áo ngũ thân xuất hiện vào khoảng đời vua Gia Long (1802-1819). Sở dĩ có sự ước đoán này, vì mặc áo ngũ thân thì phải mặc quần chứ không thể mặc váy. Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế ra chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy và bắt phải mặc quần hai ống, nên hồi ấy mới xuất hiện câu ca dao than vãn:

Tháng Tám có chiếu vua ra,

Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng!

2- ÁO DÀI TÍN ĐỒ CAO ĐÀI:

       Đạo Cao Đài có qui định tất cả tín đồ nam hay nữ đều mặc đạo phục áo dài trắng, một nét vô cùng đặc biệt chỉ riêng có Đạo Cao Đài. Nó thể hiện ý nghĩa rất sâu sắc. Đó là bản tánh thâm trầm, giản dị, khiêm tốn, nói riêng của người tín đồ Cao Đài. Khi mặc chiếc áo dài trắng, đó là màu tượng trưng cho bản tánh giản dị, thanh cao về tinh thần, trong sạch về phẩm chất của Cao Đài, đồng thời nói lên cái quốc hồn quốc túy của dân tộc Việt và cái văn hóa tốt đẹp của người tín đồ Cao Đài. Từ đó, đạo Cao Đài được truyền bá ra khắp thế giới, đều biết và chấp nhận văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam là dân tộc được Đức Chí Tôn Thượng Đế chọn và họ sẽ giao hòa với tánh thâm trầm tinh túy của người Việt.


         Ngoài ra, chiếc áo dài trắng của Cao Đài còn có một ý nghĩa sâu sắc của Đức Chí Tôn đã kín đáo ban cho nó. Ý nghĩa như thế nào?
a/. Trước hết xin nói: Màu trắng là “Màu của Tình Thương”:

        Đức Chí Tôn dạy mọi người phải thương yêu nhau như ruột thịt. Sự thương yêu đó thể hiện tình huynh đệ đồng đạo, ở tình nhơn loại giữa con người với nhau.

        Đức Chí Tôn dạy rằng: “Giáo lý của Thầy là Đại Đồng”. Lấy sự thương yêu làm gốc và nếu không có sự thương yêu thì Đạo không thành. Cho nên, từ sự thương yêu, lấy giáo lý Cao Đài để thể hiện từ:

- Lòng bác ái khoan dung của Thiên Chúa,

- Lòng Từ Bi Hỉ Xả của Phật,

- Tánh Ái Nhơn Hòa Thuận của Khổng.
b/. Màu trắng là màu của sự vô tội:

- Màu trắng tượng trưng cho sự trong trắng của người con gái có nề nếp, gia phong giữ gìn trinh tiết.

- Màu trắng tượng trưng cho sự ngây thơ, hồn nhiên không chút bợn nhơ của trẻ thơ.

- Màu trắng tượng trưng cho con người đạo đức hiền lương không làm gì tội lỗi.

- Màu trắng nói lên sự thanh cao trong sạch của con người.

         Nói chung: màu trắng là màu của sự vô tội. Chiếc áo dài trắng của Đạo Cao Đài nói lên ý nghĩa vô tội đó. Bởi vì sứ mạng của người tín đồ Cao Đài là phổ độ chúng sanh, để mọi người lo tu hành, trau dồi đạo đức, làm sao để được sống vào đời Thượng Nguơn Thánh Đức, tức là nguơn vô tội, cho nên người tín đồ Cao Đài trước hết phải là con người vô tội để được sống vào đời Thượng Nguơn tới, vì đời Hạ Nguơn sắp mãn, nhơn loại sẽ chịu sự sang sảy của luật Thiên điều, ai hữu căn hữu kiếp sẽ được tồn tại, ai hung tàn tội lỗi sẽ bị hủy diệt.

         Bởi vậy, khi mặc y phục trắng của Đạo, người tín đồ luôn giữ ý, tâm, hướng định cho trong sạch và tránh làm những việc xấu xa, ô uế cho bản thân, cho uy tín của Đạo.
c/. Màu trắng là màu của nước:

         Nước ở đâu cũng có, thời buổi nào cũng có. Nước vô tận vô biên. Nước chảy từ sông ra biển từ biển trở vào sông, nước ròng nước lớn, đều do một quy luật thiên nhiên của vũ trụ. Người tín đồ Cao Đài đi tầm đạo giống như dòng nước chảy theo quy luật tự nhiên, cũng như người tín đồ Cao Đài tuân theo luật đại hóa lưu hành của Trời Đất. Bởi vậy trong Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có đoạn:

Bất ngôn nhi mặc, tuyên đại hóa,
Thị không thị sắc, Vô Vi nhi dịch sử quần linh.

         Người tín đồ Cao Đài trầm lặng không nói, để mặc cho cuộc đại biến hóa của vũ trụ và “không làm” (vô vi) để tùy theo các quần linh chuyển dịch.

         Theo đức Lão Tử và phái Đạo Gia, Vô Vi có nghĩa là “không làm”, nhưng không có gì là không làm (Vô Vi nhi Vô Bất Vi) hay là “không làm gì trái với luật tự nhiên”.      Đức Lão Tử bảo “Vi Vô Vi” tức là “Hãy làm cái Vô Vi”. Như vậy, Lão Tử nào có chủ trương sự không làm gì cả, mà bảo nên làm theo phép “Vô Vi”

         Dòng nước âm thầm chảy ngày này qua ngày nọ, tháng này qua tháng nọ, năm này qua năm nọ theo sức hút của mặt trăng và do sự chuyển động không ngừng của trái đất chạy quanh nó và quanh mặt trời, mà nào có ai để ý đến đây!

        Thánh Nhơn có bảo rằng: “Đạo-Pháp phải trường lưu như dòng thủy triều không ngừng nghỉ”.

         Đức Lý Giáo Tông dạy: ”Thái Thượng vô ngôn hữu đạo thành” (TNHT – 34)

Đức Chí-Tôn thì dạy: ”Đạo vốn Vô Vi” (TNHT – 175) và “Thời kỳ Mạt Pháp nầy mới có Tam Kỳ Phổ Độ, các sự hữu-hình phải hủy phá tiêu diệt. Thầy đến chuyển Đạo, lập Vô Vi” (TNHT – 121).

d/. Màu trắng là không màu mà cũng gồm 7 màu góp lại:

        Ánh sáng màu trắng nhưng thật ra gồm có 7 màu chính yếu mà cũng có thể nói là nó không có màu nào hết. Bằng một cuộc thí nghiệm quang học, người ta phân tách màu trắng của ánh sáng ra 7 màu bằng cách chiếu qua một lăng kính. Bảy màu này chiếu qua một lăng kính thứ hai thì trở lại màu trắng. Bằng một thí nghiệm khác, người ta vẽ 7 màu nầy lên một cái dĩa carton tròn rồi đem quay nhanh cái dĩa, thì người ta sẽ chỉ thấy toàn là màu trắng. Như vậy, màu trắng của Đạo Cao Đài nói lên:

- Nhứt bản biến vạn thù và vạn thù quy nhứt bản, theo thí nghiệm về phân tích ánh sáng trên.

- Có đó rồi không có. Màu trắng biến thành 7 màu, rồi trở lại màu trắng, tức là “Sắc sắc không không. Hư Hư Thiệt Thiệt”. Bởi vậy trong Kinh Ngọc Hoàng có câu:”Nhược thiệt, nhược hư… Thị không, Thị Sắc”. Vì thế, Màu Trắng là không màu, vậy Đạo tức là “Vô”.
e/. Màu trắng là Đạo, Đạo vốn là Vô:

        Theo Vũ Trụ Quan của Đạo Cao Đài thì:

        Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy – Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực.

Thầy mới phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi – Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng.

Tứ Tượng biến thành Bát Quái – Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn Khôn thế giái.

        Thầy lại phân Tánh Thầy sanh ra vạn vật: vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm; gọi là chúng sanh (TNHT – 170) và

        Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn Khôn Thế Giái nầy, mà nếu không có Hư Vô Chi Khí thì không có Thầy” (TNHT – 28)

        Con người là một phần Chơn Linh của Thượng Đế, vậy con người cũng từ Hư Vô Chi Khí mà ra, cho nên khi con người đắc đạo trở về hội hiệp cùng Thầy tức là trở lại “Vô Vi Chi Khí” chính là Niết Bàn đó vậy (TNHT – 44)

        Bởi vậy trong Đại Thừa Chơn Giáo có viết: “Luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hóa Thần”, “Luyện Thần huờn Hư, luyện Hư huờn Vô” (ĐTCG – 61), thì Huyền Quan Nhứt Khí sẽ được mở toát ra.”

       Người tín đồ Cao Đài giáo mặc áo dài trắng là nói lên cái “Vô của Đạo, vì Đạo chính là Vô”. Nói cách khác “màu trắng thể hiện cái Đạo”. Do đó màu trắng có ý nghĩa rất sâu xa và còn có thể nói là rất “Huyền diệu”.

        Chúng ta hãy liên tưởng đến việc: “Tại sao đức Giáo Tông và Thượng Chưởng Pháp mặc áo trắng, trong khi các chức sắc Đại Thiên-Phong khác lại có phẩm phục màu khác?”

Bởi vì áo của Giáo-Tông màu trắng tức là “màu nguồn gốc của Đạo”. Đạo không màu sắc hay tượng trưng một màu rất trong sạch là màu trắng, màu trắng có thể biến ra các màu vàng, xanh, đỏ.

        Trở lại màu trắng tức là “Qui Hồi Căn Bổn” vậy. Còn Thượng Chưởng Pháp mặc phẩm phục trắng vì Thượng Chưởng Pháp có quyền thay thế cho Giáo Tông khi Ngài vắng mặt (CTĐ – 44)
3- KẾT LUẬN:

        Chiếc áo dài Việt Nam mang nét đẹp truyền thống, chứa đựng tâm hồn dân tộc, vừa duyên dáng vừa quyến rũ, làm tôn vẻ đẹp cho người phụ nữ Việt Nam và được nhiều người nước ngoài ưa thích. Áo dài đã đi sâu vào trong lòng con người Việt Nam. Áo dài nam nữ là một biểu tượng văn hóa dân tộc của người Việt Nam.

      Đẹp biết bao quê hương cho ta chiếc áo nhiệm màu, dù ở đâu Paris, Luân Đôn hay những miền xa, thoáng thấy áo dài bay trên đường phố sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó em ơi”. 

       Áo dài, chiếc áo cổ truyền thướt tha mang đậm nét dân tộc của con người Việt Nam. Dù ở bất cứ nơi đâu, chiếc áo dài truyền thống luôn là niềm tự hào của người Việt Nam.

       Khi mặc áo dài trắng, người tín đồ nam nữ Đạo Cao Đài luôn tâm niệm phải nên hiểu là mình đang mang trong người không biết bao nhiêu ý nghĩa sâu xa của người Việt, của Đạo mình mà Đức Chí Tôn đã kín đáo gởi vào đó. Chúng ta phải hiểu bổn phận và trách nhiệm của chúng ta khi ta mặc chiếc áo dài trắng nầy để không làm trái giáo lý của Đức Chí Tôn.

        Vào những ngày Đại lễ, rừng áo dài trắng của tín đồ Cao Đài đang đi vào ngôi nhà thờ Thầy Mẹ, in sáng một vùng không gian rộng lớn sáng chói như một bức tranh phù điêu tuyệt mỹ không bút mực nào tả hết ý nghĩa, vừa nhẹ nhàng, lung linh, huyền ảo, trong trắng, thướt tha, dịu dàng và thanh cao vừa đầy vẻ kín đáo, đáng tôn kính.

         Đẹp đẽ thay chiếc áo dài! Quý hóa thay bộ Đạo phục Cao Đài!     
Tài liệu do Hồ Xưa sưu tầm, bố cục lại___________________________

Mời Xem 1 Bài Thơ : Trăn Trối



TRĂN TRỐI
Nếu một mai tôi bỗng dưng bị stroke,
Liệt toàn thân không cử động, nói năng.
Bài thơ này là nguyện vọng, trối trăn,
Hãy giải thoát tôi khỏi thân tầm gởi.

Ngày chia tay sớm muộn gì cũng tới,
Ở lại đừng buồn nhớ tiếc thương nha.
Coi như tôi đang du lịch phương xa,
Đang bay bổng với mây xanh, gió mát.


Tôi không muốn bị người ta mổ xác,
Banh bụng ra moi gan ruột người ơi.
Khỏi nhà quàn, khỏi hòm hiếc lôi thôi,
Đem thẳng tới lò thiêu cho rẻ, khỏe.


Và nhớ thiêu iPhone luôn đấy nhé.
Nó bây giờ là vật bất ly thân,
Là món ăn đặc biệt của tinh thần
Là cầu nối của trần gian lắm chuyện.


Xin đừng thả tro tàn tôi xuống biển,
Rải xung quanh bồn hoa đẹp trước sân.
Để cho tôi cát bụi vẫn được gần,
Nhà có sẵn ...wi-fi và facebook.


Nhớ đừng mời thầy tụng kinh về cúng,
Nghe ê a thật quá chán mớ đời.
Bạn bè thương thì hãy hát nhạc vui
Hoặc kể chuyện tiếu lâm nào mới lạ.


Cứ tưởng tượng tôi đang cười ha hả,
Tươi như hoa thưởng thức với mọi người.
Tiếc là không ăn được chỉ ngửi thôi,
Nhưng cũng tốt, coi như là giữ dáng.


Đừng cầu chúc tôi lên miền cực lạc,
Có thần tiên, có Đức Phật, Chúa Trời.
Chốn tu hành tôi không hợp người ơi,
Cứ để mặc tôi lãng du theo hứng.


Sao đi chết mà xem chừng cũng sướng.
Vậy bây giờ tạm biệt nhé tôi bay,
Nhớ đến tôi thì cứ việc lên “phây”,
Sẽ thấy mặt cười như con khỉ đột!


Thanh Mai

 Minnesota
Oct 30th, 2015


Cười Hay Không Là Tùy Bạn 

10 mẹo để tránh sốc văn hóa khi du lịch (vnexpress)


Tại Venezuela, đúng giờ bị coi là nóng vội, còn ở Hàn Quốc, mực đỏ chỉ dành để viết tên người đã khuất.

10 mẹo để tránh sốc văn hóa khi du lịch
Việt hóa đồ họa: Đức Anh

NGƯU LANG & CHỨC NỮ -Thơ Duy Anh và Thơ Họa

NGƯU LANG & CHỨC NỮ Tháng Bảy mưa không tạnh giọt ngâu Buồn cho đôi lứa phải vương sầu. Ngưu-Lang nuối tiếc tình nồng cuối Chức-Nữ hoài ...