Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2022

Góc Đường Thi : LƯƠNG CHÂU TỪ - Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi

Góc Đường Thi :   

                          LƯƠNG CHÂU TỪ

       CHIẾN TRANH là thảm họa muôn thuở từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á... Có biết bao nhiêu người đã nằm xuống ở sa trường. Sinh ly tử biệt, có mấy ai được lành lặn trở về từ chiến địa đâu ?!... Mời đọc LƯƠNG CHÂU TỪ của Vương Hàn đời Đường để thấm thía hơn với nỗi niềm " Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ?!"...

 涼 州 詞                  LƯƠNG CHÂU TỪ
              王 翰                             
   Vương Hàn
葡萄美酒夜光杯,    Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
欲飲琵琶馬上催。    Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.
醉臥沙場君莫笑,    Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
古來征戰幾人回。    Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi ?

王 翰 VƯƠNG HÀN : Không rõ năm sanh năm mất. Tự là Tử Vũ. Người đất Tinh Châu Tấn Dương  (thuộc Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây hiện nay). Lúc trẻ nhà giàu nên sống rất hào sảng phóng túng, thích uống rượu và ngao du sơn thủy. Đậu Tiến Sĩ đời Đường Tuấn Tông Cảnh Vân Nguyên niên (719).Khi Trương Duyệt làm Tể Tướng có triệu ông về kinh làm quan, đến khi Trương Duyệt bị bãi chức, ông cũng bị biếm ra khỏi kinh thành. Cuối cùng ông nhậm chức Tư Mã Thông Châu và mất ở nơi đây. Ông sở trường về thơ Thất ngôn tứ tuyệt, thiên về biên tái, lời thơ rất hùng tráng, hoa lệ và cảm khái, bi phẫn với cảnh chiến tranh dai dẵng.

CHÚ THÍCH :
    1. LƯƠNG CHÂU : là đất Lũng Tây đời Đường, nay thuộc TP Võ Uy tỉnh Cam Túc. Đây là vùng đất giáp ranh, do người Hán và người Hồ luân phiên cát cứ, ai mạnh thì chiếm giữ.
       LƯƠNG CHÂU TỪ : không phải là tựa chính thức của bài thơ, mà là tên của một Khúc Hát ở vùng đất Lương Châu, vì ngoài bài nầy ra, ta còn có Lương Châu Từ của thi sĩ Vương Chi Hoán cũng thuộc đời Đường. Nên bài nầy còn có tựa là XUẤT TÁI 出塞 : có nghĩa là XUẤT CHINH RA NGOÀI BIÊN TÁI.
    2. BỒ ĐÀO : là Trái Nho, nên BỒ ĐÀO MỸ TỬU là Rượu ngon được ủ bằng nho. NHO là trái của người Hồ, nên rượu Nho cũng là rượu của người Hồ cống nhập vào Trung Hoa. Bây giờ ta gọi là rượu VANG (Le Vin).
    3. DẠ QUANG BÔI : là Ly uống rượu mà ban đêm phát ra ánh sáng. Ly làm bằng ngọc Dạ quang . " Có thể " là ly bằng Pha-Lê cũng do người Hồ cống vào Trung Hoa.
      Trung Hoa xưa gọi những dân tộc ở phương bắc là Bắc Mông, phương Tây là Rợ Hồ, phương Nam là Nam Man. Gọi chung các nước của các dân tộc đó là PHIÊN BANG.
    4. TỲ BÀ : là loại đàn có 4 dây, cũng từ đất Hồ cống nhập, nên còn gọi là Hồ Cầm, loại đàn mà cô Kiều đàn rất giỏi : 
                Nghề riêng ăn đứt HỒ CẦM một chương !
    5. QUÂN 君 : là Nhân Vật Đại Từ, ngôi thứ 2 số ít, nên có nghĩa : Ông, Anh, Bà, Chị, Em, Mầy... Trong câu thơ nầy, xưa nay thường được mọi người hiểu và dịch là ANH hay BẠN. Sao không thể là NÀNG được chứ ?! Tại sao ?. Xin thưa :
     Hai câu đầu nêu lên : Rượu Bồ Đào (rượu Nho), ly dạ quang (ly pha-lê), đàn Tì Bà, tất cả đều của Xứ Hồ : Hồ tửu, Hồ bôi, Hồ Cầm, thì sao không thể là HỒ CƠ chớ ?! (HỒ CƠ 胡姬 : là Người đẹp xứ Hồ). Những người đẹp nầy giỏi đàn hát, giúp vui trong quân ngũ để khích lệ tinh thần ba quân tướng sĩ hăng hái giết giặc. Ta thấy thúc quân không phải là tiếng chiêng tiếng trống, mà là tiếng đàn TÌ BÀ, Có lạ không ? Và chắc chắn là tiếng đàn thúc quân phải do những Hồ Cơ nầy ngồi trên mình ngựa  đãm nhiệm. Cho nên, trước khi phi ngựa ra chiến trường, người chiến sĩ đã nói vói lại với người đẹp Hồ Cơ rằng : "Túy ngọa sa trường QUÂN mạc tiếu !.( ta lỡ có say mà nằm gục giữa chiến trường thì NÀNG cũng đừng có cười nhạo ta nhé ! . Vì : " Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ?! Xưa nay, có mấy ai được trở về từ chiến trường đâu nàng ơi !!! 
 
DỊCH NGHĨA :
       Rượu Bồ Đào rót vào chén dạ quang (Rượu vang ngon rót vào chén ngọc đẹp). Toan uống, thì đã nghe tiếng Tì Bà thúc quân vội vả lên ngựa. (Nhưng khoan, hãy đợi ta uống cạn vài ly đã) Vì có say nằm gục giữa chiến trường thì NÀNG cũng đừng có cười nhạo ta nhé ! Vì hãy nghĩ xem, từ xưa đến nay đem thân đi chinh chiến đã có mấy ai được trở về đâu ?!
        Đây là cái khí phách ngang tàng của...

                  Những người chinh chiến bấy lâu,
                  Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.
                                                  ( Chinh Phụ Ngâm Khúc )
 

DIỄN NÔM :

              BÀI HÁT LƯƠNG CHÂU
          Rượu vang rót vội chén pha-lê,
          Giục giã tì bà giọng tỉ tê.
          Say khước sa trường nàng chớ nhạo,
          Xưa nay chinh chiến mấy ai về ?!

  Lục bát :
          Bồ đào rót chén dạ quang,
          Tì bà giục giã sa tràng tiến ngay.
          Chớ cười chiến địa ta say,
          Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về ?!

                                                 Đỗ Chiêu Đức.

PHỤ CHÚ :
      Người Hoa gọi tất cả các loại đá quí là BẢO THẠCH 寶石, mà cũng gọi là NGỌC 玉 nữa. Ví dụ : CẨM THẠCH 錦石 mà ta làm đồ trang sức để đeo, thì người Hoa không có gọi là đeo CẨM THẠCH 戴錦石, mà gọi là ĐỚI NGỌC 戴玉 là Đeo NGỌC. Nên PHA LÊ trong thiên nhiên ngày xưa rất hiếm, có được một khối Pha Lê để làm ly uống rượu không phải là dễ. Pha Lê lại lóng lánh trong ánh đèn đêm, nên ta có thể "nghĩ" DẠ QUANG BÔI ở đây là LY PHA LÊ được nói nhấn cho có vẻ cao quí và trịnh trọng !. Mặc dù theo truyền thuyết cho rằng NGỌC DẠ QUANG là Ngọc tự nó có thể phát sáng trong đêm, chớ không phải như Pha Lê phải nhờ ánh sáng mới lấp lánh được. Nhưng trong Văn Chương ai biết được....!!!
__._,_.___
                                                                                           杜紹德
                                                                                       Đỗ Chiêu Đức

🌷🌷🌷🌷🌷Xem Thêm : Trao đổi giữa ĐCĐ. và  BXC :
 
Tiên sinh Đỗ Chiêu Đức là một bực...thâm nho !. Tôi cũng biết võ vẽ dăm ba chữ Hán, nên đọc các bài viết của tiên sinh Đức, tôi vô cùng thích thú, vì có thể thưởng thức được hết các bình giảng của tiên sinh.
Mèn ơi ! ông Tầu kêu là "bồ đào mỹ tửu", nghe có vẻ là một thứ rượu quý của Tàu; té ra bây giờ chúng ta ngày nào cũng uống...bồ đào mỹ tửu cả ! Nhiều thứ bồ đào mỹ tửu  dở thấy mồ !
Cảm ơn đã cho đọc các bài cổ văn rất hay.
BXC
 
Kính Tiền bối,

       CÁM ƠN Tiền bối đã đọc bài và tán thưởng. Có những từ mà người Hoa họ sử dụng rất thông thường nhưng khi phiên âm ra chữ Nho thì nghe rất cầu kỳ cao qúy. Vì người Hoa gọi trái nho là trái Bồ Đào 葡萄 nên khi đem ngâm thành rượu thì là Rượu Bồ Đào, và vì uống rất ngon ngọt, nên lại thêm vào chữ Mỹ nữa thành BỒ ĐÀO MỸ TỬU 葡萄美酒 nghe rất cao sang qúy giá !
      Còn một thứ rượu nữa mà trong tích Bùi Hàng gặp Tiên đã có 2 câu thơ trong bài tứ tuyệt như sau : 
                      一飲瓊漿百感生,  Nhất ẩm QUỲNH TƯƠNG bách cảm sanh,
                      玄霜搗盡見雲英。  Huyền sương đảo tận kiến Vân Anh.
Có nghĩa :
                - Hễ uống rượu QUNH TƯƠNG vào là sẽ sanh ra trăm mối cảm hoài,
                - Cứ giã hết thuốc huyn sương thì sẽ gặp được Vân Anh !

      Rượu QUNH TƯƠNG 瓊漿 là rượu ướp ủ cho trái cây lên men mà thành, nên mùi vị rất thơm ngon và màu sắc cũng lắp lánh như ngọc quỳnh ngọc dao. TƯƠNG là chất nước ứa ra từ trái cây. Nên Rượu QUỲNH TƯƠNG là Rượu Cóc-tai  (Cocktail) của bây giờ đó !...

         Vài hàng trao đổi, chúc Tiền bối luôn luôn VUI VẺ, KHỎE MẠNH !
                                                                                       Đỗ Chiêu Đức
                                                                                                      Kính bút
🌸🌸Thêm 1 ý kiến khác :
Lac Nguyen nói...

Theo Nguyễn Dư:
- Người Ai Cập biết làm rượu nho sớm nhất, khoảng 4500 năm trước Công nguyên. Họ truyền dạy cho các nước chư hầu, dân nô lệ xung quanh. Sau đế quốc Ai Cập, đế quốc La Mã tiếp tục khuếch trương nghề trồng nho, làm rượu ra khắp châu Âu.
Thế kỉ 16, các nước phương Tây nằm bên bờ biển Đại Tây Dương như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan v.v. thi nhau dùng tàu thuyền đi tìm thị trường buôn bán. Họ đến được Ấn Độ, Trung quốc...
- Ngày xưa, đế quốc La Mã đã sớm nhận ra được vị trí quan trọng của một vùng đất có cửa sông đổ ra biển Đại Tây Dương. Rất thuận tiện cho tàu bè qua lại. Tại đây, năm 138, người La Mã khởi công xây dựng thành phố Portus Calle, buôn bán sầm uất.
Tên Portus Calle về sau được dùng để đặt tên nước Portugal. Portus trở thành thủ đô Porto.
Thành phố Porto và các vùng phụ cận, từ xưa đến nay,nổi tiếng nhờ... làm rượu nho.
- Thế kỉ 16, rượu làm tại Porto, đã được lái buôn người Bồ Đào Nha mang vào nước Tàu, đã được các nhà truyền giáo dùng trong các buổi lễ của nhà thờ.
Người Trung quốc có thể mua rượu nho ngoài phố. Giáo dân biết rượu nho qua bài giảng Kinh Thánh. Nhiều người được thấy rượu nho trong nhà thờ.
Người Trung quốc gọi rượu nho là rượu Porto hay rượu của Portugal.
Porto, Portugal được ghi âm và được đọc theo âm Hán Việt là Bồ đào, Bồ Đào Nha.
Hai cặp Bồ Đào, tên rượu nho và tên nước, viết giống nhau vì cùng từ một gốc (porto, portu) mà ra. Không phải ngẫu nhiên mà Bồ đào (rượu nho, quả nho) viết giống Bồ Đào Nha.

Nhưng...
- Nói rằng Bồ Đào là Porto, Portugal... là sai bét nhè!
Ai có say xỉn, ngất ngư không xem trời đất ra cái thá gì, cũng phải công nhận là... thời Vương Hàn (687-726) nước Tàu đã có bồ đào mĩ tửu rồi. Nghĩa là nước Tàu đã có rượu nho từ 8, 9 thế kỉ trước khi người Bồ Đào Nha đến buôn bán, lập thương điếm tại Ma Cao!
Đúng hay sai, xin nhờ một người sống cùng thời với Vương Hàn là Đỗ Phủ (712-770) phân xử giùm.
Đỗ Phủ sống rất vất vả vì phải chạy loạn An Lộc Sơn. Nay đây mai đó. Đỗ Phủ được chứng kiến nhiều thay đổi, xáo trộn của xã hội.
Bài Tẩy binh mã (Rửa khí giới) của Đỗ Phủ có câu:
Kinh sư giai kỵ hãn huyết mã,
Hồi Ngột ổi nhục Bồ Đào cung.
Nghĩa là:
Nơi Kinh sư toàn dùng giống ngựa "mồ hôi máu",
Quân Hồi Ngột no thịt ở cung Bồ Đào.
- Ngựa "mồ hôi máu" là giống ngựa hay ở phương Bắc, khi chạy đường trường, mồ hôi đổ ra đỏ như máu.
- Hồi Ngột là tên một dân tộc ở phương Bắc, sang giúp nhà Đường dẹp loạn An Lộc Sơn.
Hai câu thơ trên được N. T. dịch là:
Hồi Ngột đưa thêm quân trợ thuận
Kinh sư đều cưỡi ngựa truy phong (4).

Tẩy binh mã của Đỗ Phủ gián tiếp giúp chúng ta hiểu được câu thơ của Vương Hàn:
Bồ Đào mĩ tửu dạ quang bôi nghĩa là Tại cung Bồ Đào, uống rượu ngon bằng chén dạ quang.
Cung Bồ Đào ở Trường An, thời bình là nơi khách dừng ngựa, vào uống rượu nghe đàn hát (thơ Vương Hàn), thời loạn bị quân Hồi Ngột chiếm đóng, biến thành "cung ẩm thực", ăn uống xô bồ (thơ Đỗ Phủ).
Bồ Đào của Vương Hàn là tên một cung đời Đường, không phải là rượu nho của Bồ Đào Nha. Đời Đường, Trung Quốc chưa có thứ rượu này. Ngẫu nhiên tên cung đồng âm với tên rượu.
Lý Bạch (701-762), bạn của Đỗ Phủ, cũng có hai câu thơ tương tự như thơ Vương Hàn:
Lan Lăng mĩ tửu uất kim hương
Ngọc uyển thinh lai hổ phách quang (Khách trung tác)
Nghĩa là:
Rượu ngon đất Lan Lăng đượm mùi thơm cỏ uất kim
Đựng trong chén ngọc màu hổ phách sáng ngời .
Nói tóm lại:
- Các từ điển (từ thế kỉ 16 trở về sau) định nghĩa bồ đào là rượu nho là đúng.
Nhưng thơ của Vương Hàn (trước thế kỉ 16)mà dịch cung Bồ Đào thành rượu bồ đào, rượu nho là SAI.
Bồ Đào mĩ tửu! Rượu vào lời ra. Chữ say liền với chữ sai một vần.


Lac Nguyen nói...

Viết lại cho chính xác:
Nghĩa là nước Tàu đã có "rượu nho" từ 8, 9 thế kỉ trước khi người Bồ Đào Nha đến...
Rượu nho để trong ngoặc kép (có nghĩa là Bồ Đào - LN)

 

 
🌺🌺🌺🌺🌺Gởi đến bạn đọc chơi một bài nhận xét nữa cũng khá "lý thú" sau đây :

On Friday, July 1, 2022, 04:57:17 AM CDT, Danh Huu <danhhuu@gmail.com> wrote:

Chào các bạn ! Tôi đã định không góp lời vào chuyện Dịch thơ Đường của người Tầu nữa, nhưng vì thấy có bài giảng của bạn Đỗ Chiêu Đức, nên cũng cảm thấy hào hứng, vậy xin có vài lời đóng góp. Nhưng trước hết, hãy kể về cái cơ duyên nào dẫn tới « Dịch thơ Đường » của tôi.

Số là năm 1975, tôi về sống ở Việt nam và muốn trau giồi tiếng Việt, nhưng không đào đâu ra sách để học. Đến nhà người quen nào hỏi họ cũng bảo : sinh viên đến thu cả rồi ! Cuối cùng tôi vào chợ lớn mua được cuốn Đường thi tam bách thủ của người Tầu, vì tôi biết 2 thứ tiếng Tầu :  Bắc kinh và Quảng đông. Và tôi bắt đầu tập dịch sang thơ Việt. Thời đó, tôi chưa biết những chữ đó người Việt đọc như thế nào, phải đoán mò. Mãi sau này, khi qua Pháp, tôi mới tìm mua được những cuốn in lại ở bên Mỹ, các tập thơ như Đường Thi của Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim và Thơ Đường của Tản Đà, Trần Trọng San. Nhờ đó, tôi học được cách đọc Hán Việt của người Việt. Tuy nhiên, khi đem so sánh với những bài dịch của tôi, tôi cảm thấy bất ngờ, mà theo tôi, các vị tiền bối đã… hình như thiếu chú ý hoặc thấy chữ là dịch, dịch để giải khuây nên có nhiều bài dịch sai !

Như bài Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị, tác giả chê Đường Minh Hoàng là kẻ Bất tín, bất nghĩa, bất nhân thì Tản Đà lại khen ngợi và gọi ông là Đức vua Hán, còn Dương Quý Phi được tác giả ca ngợi, 3 lần nhắc đến điệu vũ khúc Nghê thường của nàng thì bị Tản Đà bỏ qua và khinh bỉ gọi nàng là « gái mới choai ». Một ông giáo sư ở Sài Gòn còn tán tụng là : « Những ai đã đọc bài dịch này của Tản Đà rồi sẽ không còn dám cầm bút dịch nữa ». Tôi nhủ thầm : May là mình dịch trước khi đọc ! Từ đó, tôi ít khi đụng tới các bài thơ Đường. Ngoài việc đôi khi góp vui với các bạn ở vườn thơ thẩn này.

Ví dụ như bài thơ đây, bạn Chiêu Đức cũng giảng giống các vị tiền bối : Dạ quang bôi là ly làm bằng ngọc dạ quang. Nhưng ngọc là loại hột xoàn tính bằng cara, của đâu thừa mà đem khoét làm ly uống rượu, và ngọc là loại đá cực cứng, họ lấy gì để khoét thành ly uống rượu ? Ngọc chỉ có thể mài cạnh chứ không có vật cụ nào khoét lõm được nó cả. Pha lê cũng chỉ được tìm ra từ thế kỷ 17 ở Tây phương. Tuy rằng người Ai cập đã tìm thấy các viên đá pha lê nhiều mầu sắc để làm đồ trang sức từ rất lâu trước đó.

Theo tôi, đây là bài thơ phản chiến và có nhiều từ đã bị người trước hiểu sai nghĩa.

1.- Dạ quang bôi. Chữ Quang có nhiều nghĩa, ngoài nghĩa ánh sáng còn có nghĩa là vẻ vang (như Quang lâm), là « hết nhẵn » như ở đây. Và theo tôi, dạ quang bôi là : Đêm, cạn chén !

2.- Tì bà là đàn Tì bà của người Hồ sử dụng khi múa hát, không ai sử dụng đàn tì bà để thúc quân ra trận cả. Ra trận là phải dùng trống trận (cổ bề). Vậy Tì bà ở đây là ám chỉ xứ sở tì bà, nơi sản xuất rượu bồ đào (rượu nho). Hồ là nước bị coi là Địch nên tác giả không dám hài tên.

3.- Mã thượng thôi : Nghĩa cụm từ mã thượng là : mau mau, chứ không phải lên ngựa. Lên ngựa là thượng mã. Thôi là thôi thúc, là gấp. Mã thượng thôi là : mau mau đi !

3.- Túy ngọa : Nằm say. Nằm say ở chiến trường hàm ngụ sự chết.

Ý nghĩa toàn bài :

1.- Rượu nho là loại rượu ngon, đêm đến uống nó là phải cạn chén.

2.- Muốn uống rượu của xứ Tì bà, thì hãy mau mau đến đó !

3.- Có chết trên chiến trường thì cũng chẳng ai cười (hàm ý : đâu phải mình chết trên chiếu           rượu).

4.- Xưa nay ra trận, có mấy ai toàn mạng để về đâu !

Tôi không góp bản dịch thơ của tôi và để các bạn tùy nghi suy nghĩ. Cám ơn bạn Chiêu Đức đã cho tôi ít hứng thú để góp phần.

Danh Hữu (Paris 01/7/22)

....và tôi đã có bài hồi đáp như sau :
'
Kính Tiền bối,

        Rất hân hạnh đã làm cho Tiền Bối "cảm thấy hào hứng". CÁM ƠN Tiền bối đã góp ý về bài thơ thất ngôn tứ tuyệt LƯƠNG CHÂU TỪ rất nổi tiếng của Vương Hàn với những NGỮ NGHĨA thật LẠ !

        * Bồ đào mỹ tửu 葡萄美酒 là "Rượu nho là loại rượu ngon". Đúng rồi, không cải vào đâu được ! Nhưng  Dạ Quang bôi 夜光杯 mà hiểu là "đêm đến uống nó là phải cạn chén." thì có hơi LẠ ! Bộ rượu nho uống ban ngày thì "không được cạn chén sao ?" Hơn nữa, DẠ QUANG ở đây là Hình dung Từ bổ nghĩa cho Danh từ BÔI đi theo sau nó, nên nghĩa đã hiển nhiên : DẠ QUANG BÔI là Ly Dạ Quang, làm bằng gì không cần biết, chỉ biết cái LY đó có tên là "Ly Dạ Quang"; như Từ Bôi  瓷杯 là Ly sành, ly bằng đồ gốm; Thạch Bôi 石杯 là Ly bằng đá; Mộc Bôi 木杯 là Ly bằng cây...
        * Dục ẩm tì bà 欲飲琵琶 mà hiểu là "Muốn uống rượu của xứ Tì bà" thì LẠ VÔ CÙNG ! Vì nó là "Rượu Bồ Đào" có tên gọi rõ ràng ở câu một rồi, nên đâu còn gọi với cái tên mơ hồ là "rượu của xứ Tì bà" nữa ! Còn Mã Thượng thôi 馬上催 mà giảng là "thì hãy mau mau đến đó !" Thì Tiền bối đã nhầm lẫn giữa Văn Ngôn và Bạch Thoại rồi ! Từ MÃ THƯỢNG 馬上 trong văn nói có nghĩa là :Liền, ngay, tức khắc ! Như thầy giáo nói với học sinh trong lớp khi  đang làm bài tập là : 馬上做,馬上交!Mã Thượng tố, mã thượng giao ! Có nghĩa là : Làm ngay, nộp ngay ! Trở lại với câu thơ trên, có thể là Tiền bối đã ngắt câu sai rồi, vì câu thơ đó phải như thế nầy :                   
                   欲飲,琵琶馬上催。    Dục ẩm, tì bà mã thượng thôi.
Có nghĩa :
             (vừa) muốn uống, thì tiếng tì bà trên ngựa đã giục giã rồi !

       Từ MÃ THƯỢNG 馬上 là trên mình ngựa, trên lưng ngựa, chớ không phải LÊN NGỰA như Tiền bối đã hiểu nhầm. 
       Hai câu sau thì không có gì để trao đổi, chỉ có điều "Nếu hiểu 2 câu đầu theo như ý của Tiền bối đã giảng" thì NÓ không ăn nhập gì với hai câu sau cả ! Thử nghĩ xem...
       " Rượu Nho là rượu ngon đó, ban đêm uống nó thì phải uống cho cạn ly (vế nầy vô nghĩa !); muốn uống rượu của xứ Tì Bà thì hãy mau đến đó đi ! (Câu nầy rất kỳ lạ, đang đánh giặc mà bảo bạn mình muốn uống rượu Tì Bà thì hãy lên ngay xứ Tì Bà để uống !?) Hai câu đầu nếu hiểu theo ý KỲ LẠ như trên thì làm sao ráp cho ăn với ý của hai câu sau là :

                   醉臥沙場君莫笑,    Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
                   古來征戰幾人回。    Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi ?    cho được !!!
 Nói chung là...
               Ta nên hiểu đúng và dịch đúng theo ý của Tác Giả, chớ không phải dịch theo "ý của người đi trước"; nhưng nếu "người đi trước" đã hiểu đúng và dịch đúng, thì ta cũng không nên cố bới lông tìm vết để hiểu và dịch cho khác đi...

       Lâu lắm rồi mới được Tiền bối lên tiếng góp ý. Cám Ơn Tiền bối đã nêu những ý mới, mặc dù có hơi LẬP DỊ, nhưng cũng để cho những người đi sau không cứ nhắm mắt để theo người đi trước một cách mù quáng !
        Chúc Tiền bối luôn luôn VUI VẺ, KHỎE MẠNH !
                                                                                 Chân thành cảm tạ !
                                                                                        Đỗ Chiêu Đức
                                                                                                       Kính bút.


 






Mời Xem :

Góc Đường Thi : Thơ Đường của ông vua Đường đón Tết (Lý Thế Dân ) 
      

 

Xa lộ Dempster, đường tới Bắc Cực nguy hiểm nhất Canada

  • Anna Kaminski
  • BBC Travel

 

                  Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chiếc phi cơ Cessna nhỏ bé của chúng tôi rung lên trên lãnh nguyên - cảnh quan màu xanh lá sống động với những vệt xanh đậm của dòng nước từ băng tan, điểm xuyết với vô số hồ nước từ băng tan. Có những chỗ mặt đất trồi lên thành những ngọn đồi xanh mướt.

"Đây rồi," tiếng phi công phát ra qua tai nghe của tôi. "Những đồi băng vĩnh cửu," ông giải thích khi thấy tôi nhíu mày.

Một con đường ngoằn ngoèo giữa những ngọn đồi tròn, kỳ lạ nhô ra như dải ruy-băng tối. Vài ngày trước, tôi đã lái xe trên Xa lộ Dempster thẳng đến Bắc Băng Dương và muốn nhìn nó từ trên cao trước khi có chuyến đi dài quay lại thành phố Dawson, tỉnh Yukon.

'Sẵn sàng chuẩn bị tinh thần gặp tai nạn'

Dempster được coi là một trong những cung đường khó đi nhất của Canada. 'Xa lộ' là cách nói khá hào nhoáng để chỉ con đường sỏi đơn độc tách ra khỏi Xa lộ Klondike - nối giữa thủ phủ của Yukon là Whitehorse và khu định cư Klondike Gold Rush của Thành phố Dawson - xuyên qua 764 cây số rừng vân sam rậm rạp, lãnh nguyên và những ngọn đồi phủ tuyết trước khi đến Inuvik, thị trấn xa nhất về phía bắc ở Bắc Cực thuộc Lãnh thổ Tây Bắc.

Ý tưởng Xa lộ Dempster được hình thành vào cuối thập niên 1950, để mở rộng đường cho hoạt động khai thác dầu khí ở vùng Đồng bằng MacKenzie và đi theo tuyến đường tuần tra xe chó kéo vốn có hàng chục năm. Giờ đây, một đoạn cao tốc mới kết nối với Dempster, kéo dài thêm 147 km nữa tính từ Inuvik, đi thẳng đến khu định cư Tuktoyaktuk nhỏ trên bờ Bắc Băng Dương.

Xa lộ Dempster dài, đơn độc này là một trong những tuyến đường bộ cuối cùng của Canada; hành trình phiêu lưu hào hứng trên xe bốn bánh băng qua khung cảnh nguyên sơ phía bắc.

Nó cũng là đoạn đường rất khó đi trên vùng đất khắc nghiệt (bạn sẽ nhận được chứng nhận hoàn thành từ văn phòng du lịch Inuvik nếu bạn lái xe hết chiều dài của nó) vì con đường không trải nhựa, không có tín hiệu điện thoại và chỉ có một trạm xăng khoảng nửa đường.

Bất cứ ai lái xe trên con đường này cần phải chuẩn bị tinh thần đối phó với tai nạn, như chính tôi đã trải qua.

       Nguồn hình ảnh, Getty Images

              Chụp lại hình ảnh,

Xa lộ Dempster dài 764km chạy ngoằn ngoèo qua các dãy núi và phải băng qua nhiều con sông

Nhóm nhỏ của chúng tôi - gồm có tôi, phi công, một vài khách nữa - khi đó đang quay trở lại Inuvik sau chuyến đi trong ngày đến Tuk (Tuktoyaktuk theo cách gọi của dân địa phương), do hãng Tundra North Tours điều hành.

Cho đến năm 2018, làng Inuvialiut chỉ có thể đến được bằng máy bay bụi rậm (tức là bay các chuyến không theo lịch trình hoặc theo lịch trình tới những vùng xa xôi hẻo lánh, hoặc những nơi hệ thống giao thông gần như chưa có), tàu thuyền hoặc đường trên băng vào mùa đông, và cư dân của Tuk vẫn chủ yếu sinh sống dựa vào đất đai: câu cá, săn bắn và bẫy, cất giữ con mồi đánh bắt được trong tủ đông cộng đồng dưới lòng đất.

Một số người, như hướng dẫn viên địa phương Eileen Jacobson, người đã chào đón chúng tôi vào nhà để thử áo khoác trùm lông thú của cô ấy và thưởng thức pipsi (cá hồi Bắc Cực khô) - lương thực chủ đạo của người Inuit - vừa hy vọng vừa lo sợ về tác động lâu dài của con đường mới đối với cuộc sống của họ.

"Có lẽ nó sẽ đem đến thêm nhiều du khách," cô nói. "Và có lẽ giá xăng, giá hàng hóa sẽ giảm."

Nhưng cũng có dòng chảy ngầm lo ngại. Dân địa phương ở đây ai cũng nhận thức được việc các cộng đồng thổ dân người Inuit và Những Bộ tộc Đầu tiên (First Nations) khác, dễ tiếp cận hơn ở Canada đã bị tàn phá bởi tai họa kép là ma túy và rượu như thế nào.

Ngoài ra, mặc dù người Inuit ở Canada được chính phủ hỗ trợ lối sống truyền thống, các kỹ năng lâu đời vẫn đang chết dần mòn, do sự phụ thuộc vào công nghệ hiện đại đang thay thế kỹ năng điều hướng và săn bắn lâu nay.

Sự thất thường của thiên nhiên

Tôi ngẫm nghĩ về tất cả những điều này một vài ngày sau đó khi tôi rời Inuvik và nhà thờ lều tuyết ở đó, những dãy nhà màu tùng lam và nhà hàng Alestine, nơi tôi đến mỗi ngày để ăn tuần lộc nấu ớt và taco cá nấu trong xe buýt trường học cũ dán đầy sticker táo tợn, suồng sã.

Lúc đầu, mọi chuyện đều tốt đẹp. Tôi lái chiếc SUV đi trên đoạn đường gập ghềnh của Xa lộ Dempster, với rừng vân sam lùn kẹp hai bên, và đến được bờ sông MacKenzie hùng vĩ chỉ trong hơn hai giờ.

Chiếc phà chờ đợi nhanh chóng đưa tôi qua sông, băng qua khu định cư Gwich'in ở Tsiigehtchi nằm cách bến phà bên kia nhánh sông mà chỉ cần chớp mắt là sẽ hết thấy.

             Nguồn hình ảnh, Getty Images

Một lát sau, tôi bị xua khỏi bến phà sông Peel, phía nam khu định cư Gwich'in lớn hơn một chút ở Fort McPherson - thị trấn cuối cùng tôi thấy trước khi tới Dawson City, nằm cách khoảng 580 km về phía nam. Tôi được nói rằng băng tan mùa hè làm nước sông dâng lên và phà không thể cập bến. "Khi nào phà chạy lại?" Tôi hỏi. Người đàn ông nhún vai. "Có thể ngày mai, có thể không."

Giống như dân địa phương, tôi thấy mình phụ thuộc vào sự thất thường của thiên nhiên. Tuy nhiên, không như dân bản địa, đó không phải là vấn đề sống còn đối với tôi. Bạn hãy tưởng tượng có người cần cấp cứu ở Fort McPherson trong thời gian đóng băng (tháng 11 đến tháng 12) hoặc tan băng (tháng 3 đến tháng 4) của hai con sông, khi phà không chạy, mà con đường trên băng cũng đóng nốt.

Tôi qua đêm tại Peel River Inn, nhà trọ duy nhất ở khu định cư, trở lại bến phà vào ngày hôm sau.

Vào lúc đó, tôi chạy đua với thời gian. Sau khi đã dùng hết một trong hai ngày dự bị 'khi cần', không có chỗ cho sai lầm nếu tôi muốn bắt kịp chuyến bay ra khỏi Whitehorse. Lần này, tôi đã gặp may. Nước băng tan mùa hè đã rút đủ để phà cập bến, và tôi cẩn thận lái chiếc SUV lên phà.

Rừng thường xanh rậm rạp ôm lấy hai bên con đường và sỏi rơi lả tả dưới bánh xe tôi khi tôi chạy thúc về phía nam. Sự đơn điệu của khung cảnh mang tính thiền định; trong vòng vài giờ, tôi bỏ lại những ngọn đồi hiểm trở, vùng lãnh nguyên lốm đốm tuyết và những con sông băng phía sau và thế giới ngoài xe thu lại chỉ còn rừng vân sam xanh nhạt nhòa.

Đối mặt thảm họa

"Tôi có thể bắt kịp chuyến bay miễn là xe không bị hỏng một lần nữa," tôi tự nghĩ. Nhưng bên cạnh sự bực bội khi phải sắp xếp lại chuyến đi, có một lý do mạnh mẽ hơn khiến tôi không muốn bị mắc kẹt ở nơi này.

Không phải đói hay khát làm tôi lo, và bây giờ tôi thậm chí còn tương đối điềm tĩnh về khả năng chạm trán gấu xám Bắc Mỹ. Nhưng tôi sợ cháy rừng, vốn ngày càng phổ biến ở Bắc Cực của Canada vào mùa hè, do bão sét gây ra. Đã từng phải lái xe trong khói một đám cháy rừng ở những chỗ khác trong Lãnh thổ Tây Bắc, tôi phát hiện rằng mùi cháy gây ra nỗi sợ hãi sơ khai từ trong gan ruột.

Vùng hoang vắng nay là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có gấu xám Bắc Mỹ

May mắn thay, dọc trên đường Dempster ngày hôm đó, thời tiết chiều lòng người và khu rừng xung quanh vẫn ẩm khiến yên lòng và sương mù bao phủ.

Trời bắt đầu mưa. Sự nhẹ nhõm nhường chỗ cho sự lo lắng khi những giọt mưa lộp độp trên kính chắn gió trở thành trận lụt. Chẳng mấy chốc, chiếc xe trượt sang một bên khi sỏi và đất biến thành bùn, và tôi phát hiện lái một chiếc SUV có rất ít lợi thế khi bạn cố gắng giữ cho xe thẳng, ổn định và tránh xa các chỗ dốc hai bên đường. Trượt qua một bên sẽ là thảm họa.

Vì vậy, khi nhà nghỉ Eagle Plains - điểm giữa trên đường - xuất hiện trong tầm mắt, tôi thấy nhẹ người đến nỗi tôi bắt đầu run rẩy.

"Chuyện đó đã từng xảy ra một vài lần," cô nhân viên phục vụ tại nhà hàng ở nhà nghỉ xác nhận, liếc nhìn phòng ăn hầu như trống trơn, khi tôi kể lại những gì đã xảy ra. Cô ấy rất vui chém gió khi tôi gọi món trên thực đơn gồm sandwich và thịt lát.

"Tài xế chạy quá nhanh trên bùn và trượt sang một bên. Nó giống như lái trên băng." Tôi gật đầu. "Thậm chí họ không thể gọi cho chúng tôi," cô nói tiếp. "Không có tín hiệu điện thoại trên phần lớn đoạn đường, và hầu như không ai có điện thoại vệ tinh. Phải bắt chiếc xe kế tiếp mà họ thấy để trở lại đây và chờ một vài ngày trước khi xe họ được kéo khỏi rãnh."

Tôi nói với cô ấy gần như tôi rơi vào bẫy của Xa lộ Dempster trong ngày đầu tiên, khi lúc đầu tôi lái xe đến Inuvik. Sau khi lái khoảng 360km - nửa đoạn đường - mà không có sự cố, tôi đã bị ru ngủ vào cảm giác an toàn sai lầm.

"Tôi tự hỏi tại sao sách hướng dẫn khăng khăng là phải chuẩn bị không chỉ một mà hai lốp dự phòng," tôi nghĩ vẩn vơ. Chẳng mấy chốc, chiếc xe bắt đầu bíp bíp, kéo tôi ra khỏi cơn mơ màng. Trên bảng điện tử, tôi thấy áp suất của một lốp sau giảm đáng báo động. Một vết thủng.

Xẹp bánh xe giờ đây ít xảy ra hơn trước đây, lúc Dempster còn được trải loại đá xé lốp chứ không phải sỏi vốn hiền hơn, nhưng đó là lời nhắc kịp thời rằng rủi ro vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tôi có đem theo bộ kích nâng xe và cờ lê để có thể thay lốp, về lý thuyết.

Nhưng cuối cùng, tôi xoay sở để vượt qua vài km cuối cùng để đến Eagle Plains trên chiếc lốp gần như xẹp hẳn, đi thẳng đến chỗ thợ máy ở thị trấn, người vá vỏ xe cho tôi, giúp tôi đến được Inuvik trong cùng ngày.

Dempster được coi là một trong những con đường khó đi nhất ở Canada

Bây giờ, trên đường trở lại Dawson, nửa sau của hành trình trở lại Xa lộ Klondike thuận buồm xuôi gió hơn, với khu rừng mở ra, mặt trời chiếu sáng, đường thẳng tắp.

Nhưng sau đó, mọi việc lên đỉnh điểm, ngay khi tôi qua giao lộ Dempster-Klondike, tôi đã bị cú sốc xăng. Tôi nhìn mà không tin khi thùng xăng cạn trong vài giây, và xe dừng lại khi chết máy - một lời nhắc nữa về những trở ngại có thể gặp trên đường Dempster.

Không có tín hiệu điện thoại, và khi tôi đứng trên Xa lộ Klondike cách thành phố Dawson khoảng 40km về phía đông, xe bỏ lại, có thể nhân viên cứu hộ sẽ không đi qua trong hàng giờ.

Tuy nhiên, chỉ vài phút sau khi xe tôi hư, một người tốt bụng đã cho tôi lên xe. Khi anh ấy đưa tôi đến nhà nghỉ của tôi ở Dawson, tôi nhận ra đây là một phần sự quyến rũ của Dempster: bất cứ khi nào tôi sắp gặp họa, vận may sẽ mỉm cười với tôi.

Có lẽ là con đường khó đi nhất Canada rốt cuộc cũng không đến nỗi quá 'khó nhằn'.

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022

HỒI ỨC ,NẮNG MƯA NỬA ĐOẠN ĐƯỜNG DÀI - Thơ Tran Chu Ngoc


 1/ HỒI ỨC
 
Ngày trở lại chốn xưa
Con chim buồn ngáy ngủ
Cành gió sớm đong đưa
Tình không nơi trú ngụ
Con đường trong niềm nhớ
Thềm cũ với rêu xanh
Trên lối về bỡ ngỡ
Âm thầm đi bên em
Dưới bóng cây cổ thụ
Những chùm hoa nở xinh
Chú Nai tơ nằm ngủ
Ngày hè nắng lung linh
Kỳ Hoà mùa thay lá
Những nụ hoa búp non
Bên kia cây cầu đá
Bông Súng nở sắc son
Trên cây cầu hò hẹn
Chim nhảy múa trên cành
Dưới bờ dòng nước chảy
Bên cây cỏ xanh xanh
Như hoài niệm trở về
Những ngày vui hội ngộ
Giờ đi từng bước khẽ
Trong nắng sớm bơ vơ
Thôi cũng là kỷ niệm
Mùa Hè nào chắt chiu
Chiếc dù xưa màu tím
Như nỗi nhớ trong chiều
TRAN CHU NGOC
 

 2/ NẮNG MƯA NỬA ĐOẠN ĐƯỜNG DÀI
 
Ta để chút buồn nơi khơi xa
Để mai còn dư hương kỷ niệm
Ngày em về trong màu áo tím
Biển xưa còn đó chút nhạt nhoà
Em nhớ gì đoạn đường đã qua
Những vết chân son thời quá khứ
Ta dửng dưng bao điều trách cứ
Biển tình còn lại những xót xa
Thôi cuộc đời còn cả nắng mưa
Khi trong ta chỉ là phút chốc
Em nhớ không phút giây ngà ngọc
Ta bên nhau đi giữa đường trần
Còn lại gì với những bâng khuâng
Hay chỉ là thoảng như cơn gió
Ta biết khi em còn bỡ ngỡ
Là trong hồn đã thấm thương đau
 
TRAN CHU NGOC
 

Mời Xem :

TRỞ LẠI NHA TRANG -TRAN CHU NGOC  

Về thăm quê cũ - Tạp bút của Nguyễn Minh Kính (Văn Việt )

Nhớ ai đó đã cảm tác mấy câu thơ:

Xa quê hương đã mấy chục năm rồi,

Mãi trong ta nhớ miền quê yêu dấu,

Cánh diều tuổi thơ lưng trâu sáo đậu,

Nghe quê hương đất mẹ gọi ta về

Sau một chuyến bay mất gần hai mươi giờ đồng hồ và đi tiếp máy bay Vietnam Airlines từ Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh hơn hai giờ nữa, cộng thêm gần hai tiếng đi taxi mới về tới quê nhà, một vùng núi trung du đất cằn sỏi đá.

Những ai đã từng xa quê hương, xa nơi chôn rau cắt rốn đã lâu, khi trở lại thăm quê nhà đều có cảm nhận, cảm xúc giống nhau. Nhìn cảnh vật nhiều đổi thay xa lạ, cây cối già nua, nhiều cây đã biến mất, đường sá, đất đai nhà cửa cũng đổi thay, mảnh vườn xưa như nhỏ hơn, những thửa ruộng hình như cũng bị thu hẹp, con sông nhỏ bơi lội ngụp lặn năm xưa dường như cũng hẹp lại, có thể ném hòn đá từ bên này qua bên kia sông mà không cần đứng dạng chân dang tay lấy đà.

Mọi cảnh vật như bị thu nhỏ. Có lẽ khi ta lưu lạc, khi ta đi xa, dẫu cho cuộc đời vất vả trầm luân cay đắng, ta cũng được mở rộng tầm mắt hơn, nhìn thế giới bên ngoài bao la hơn nên khi trở lại quê nhà nhìn thấy sự vật kể cả con người, ký ức cũ của ta bị nhòa đi, mờ đi, chơi vơi hụt hẫng làm ta nao nao một nỗi buồn xa vắng. Mắt tôi cảm thấy cay cay khi nhìn lại quê nhà. Mảnh vườn dưới chân ngọn đồi Cồn Lách, có lẽ vì lắm lau sậy lau lách được khai khẩn nhiều đời, nhiều kiếp, nơi tôi cất tiếng khóc chào đời năm xưa, năm Tân Tỵ 1941 vẫn còn đó. Nhiều đời chủ, nhiều chủ nhân đã sống trên mảnh vườn này. Những cây tro cây cọ dùng lá lợp nhà đã thưa dần, gần như tuyệt chủng. Mái tranh đã được thay thế bằng mái ngói mái tôn rồi. Cây mít to cao nhiều quả năm xưa nghe nói đã già cỗi, người ta đốn chặt, lấy lõi cây của nó làm cột nhà. Cây bưởi, và những cây sầu đông, cây xoan dâu trong vườn cũng biến mất tự bao giờ. Những cây cau năm xưa thấp lè tè, sau cao dần, cao lêu nghêu đung đưa trong gió nay cũng thưa dần, ít đi. Cảnh vật và không gian thay đổi, con người cũng thay đổi, thời gian cũng đổi thay, chẳng dừng lại. “Không bao giờ ta tắm hai lần trên dòng chảy một con sông, cũng như không bao giờ ta gặp lại tâm hồn ta chiều nay”.

Duy chỉ còn cây đa nằm bên đường, lối đi vào ngõ nhà tôi năm xưa là còn đó và tôi còn nhận biết. Nhưng cây đa này hình như cũng nhỏ hơn trong tâm tưởng của tôi.

Tôi đứng lặng người nhìn cây đa. Phải chăng thuở xưa tôi bé nhỏ nên nhìn cây đa to hơn, bây giờ tôi lớn hơn, già hơn, trưởng thành hơn, đi nhiều hơn, đi xa hơn, nhìn thấy nhiều thứ to hơn đồ sộ hơn, hiện đại hơn, văn minh hơn nên nhìn cây đa quê nhà trở nên bé nhỏ đơn điệu? Có thể đúng nhưng chưa hoàn toàn như vậy. Cây đa sống rất lâu, có tuổi thọ hàng thế kỷ, trăm năm này đến trăm năm khác. Nếu nó lớn lên theo sự tưởng tượng sai lầm của tôi trong những năm tháng dài như thế thì nó đã cao tận trời xanh và đã gục đổ với thời gian lâu rồi. Thực tế là cây đa vẫn lớn, lớn rất chậm mà ít ai nhìn thấy. “Bạo phát bạo tàn”. Quy luật sống là thế. Có như thế cây đa mới sống lâu được.

Tôi có một kỷ niệm rất sâu đậm về cây đa này. Thời kháng chiến chống Pháp, quê tôi là vùng Việt Minh kiểm soát, được gọi là vùng tự do. Nhà cố Chắt Tổng, người trong họ, trước đây có chồng làm chánh tổng, ở gần cây đa này chừng năm bảy chục mét được chính quyền kháng chiến mượn làm kho chứa vũ khí, súng đạn, mìn, lựu đạn… Căn nhà bị cháy, lửa đỏ rực, kho đạn phát nổ gần như đồng loạt, bạt ngã cây cối trong vườn và cả vườn tược xóm làng.

Những người lớn đều rời khỏi làng ra đồng từ sáng sớm. Năm đó 1947, tôi mới sáu tuổi. Mự Cu Huệ, con dâu cố Chắt Tổng ôm một mớ quần áo trong căn nhà đang cháy chạy ra, thấy tôi chơi một mình dưới gốc cây đa, vội vàng nắm tay tôi chạy thục mạng dọc theo các lùm cây, gò đất, bờ ruộng đến vườn nhà chú Hương Hạnh. Hai mự cháu chui xuống hầm trú ẩn máy bay. Thời đó máy bay Pháp thường bắn phá và oanh tạc ở vùng tự do quê tôi nên nhà nào cũng phải có hầm trú ẩn máy bay.

Đến chiều tối, khi những tiếng nổ của kho đạn thưa dần, có vẻ yên ắng, những người ngoài đồng lần dò về làng xem sự thể ra sao, có ai thương tích hoặc bị chết không. May mà dân làng không có ai thương tích, vì miền núi nhà cửa ở xa nhau. Cha mẹ tôi ôm lấy tôi trào nước mắt. Sáu tuổi rồi mà chưa có em, tôi là đứa con cưng của một gia đình nông dân nghèo miền núi.

Hơn bảy mươi năm trôi qua, tôi nhớ như in kỷ niệm đó, mà lần này về quê gặp lại mự Cu Huệ đã chín mươi sáu tuổi, mự còn nhắc lại. Mự sống trong căn nhà tranh thấp lè tè, chui ra chui vào không cẩn thận sẽ va phải đầu, cùng đứa con gái bị tật nguyền từ nhỏ nay tuổi cũng đã ngoài sáu mươi. Con cháu mự đã có gia đình ở riêng và có những đứa đã phải tha hương cầu thực vì cuộc sống khó khăn. Mự có thằng con trai đi bộ đội hy sinh trong chiến tranh nên được nhà nước cấp mỗi tháng mấy trăm bạc và đứa con gái tật nguyền cũng được trợ cấp chút ít. Mự nói, chẳng ăn thua chi mô con, nhưng mự gom góp để dành lo hậu sự, phần bớt ra mua gạo, mua mắm muối gia vị, canh rau thì mự có trong vườn, mự cũng nuôi được vài con gà.

Nhìn mự lưng còng, dáng thấp hơn, chậm chạp hơn, gầy yếu hơn, nhưng hàm răng nhuộm đen thuở trước vẫn còn chắc. Mự cười rất tươi, rất hồn nhiên như trên đời này chẳng có gì để bận tâm. Nhìn mự, nhìn con gái tật nguyền của mự tuổi cũng đã cao, nhìn mái nhà tranh đơn sơ, tôi thật ái ngại. Em gái tôi giúi vào tay mự mấy trăm bạc mà mự không nhận. Mự nói, mự có rồi, mự có rồi, nhà nước cho mự rồi. Em tôi nói, cháu gửi cho mự để mự mua trầu ăn cho vui. Nói mãi rồi mự cũng phải nhận. Có lẽ mự nhận cho con cháu vui. Tôi không đủ can đảm để chụp tấm hình của mự, của người sắp sửa về cõi khác.

Vào nhà chị Kỷ, con người bác của tôi cũng đã ngoài chín mươi tuổi đang nằm trên giường. Con cháu của chị, đứa thì đi làm ăn xa, đứa gần chị lại phải ra đồng làm việc. Chị ở nhà một mình. Hỏi chị khỏe không, chị nói, chị khỏe. Hỏi chị ăn cơm chưa, chị nói ăn rồi. Nhìn lên đầu giường nằm thấy một bát cơm nhỏ có chút thịt băm đã nguội lạnh, ăn hết chừng một phần ba và một ly nước.

Chị ngồi dậy, người nhỏ thó, da ngăm ngăm trong bộ xương khô. May mà chị còn khá minh mẫn, hỏi đâu, chị trả lời rành rọt đến đó. Nhìn chị gầy gò, tôi không dám chụp tấm hình kỷ niệm. Em tôi ngồi nói chuyện với chị. Tôi lặng lẽ ra sân vườn nhìn cây cối, nhìn cảnh núi rừng không gian quê cũ rồi trầm tư suy nghĩ…

Thời trẻ chị không sắc nước hương trời gì nhưng cũng là một cô thôn nữ miền núi đẹp giòn, thế mà tuổi già chị như một con khỉ ốm, một con mèo già gầy giơ xương… Nhưng rồi nhớ lại, có những người có tiếng có tăm, một thời oai phong lẫm liệt, đến khi già yếu, mặt hốc hác, miệng há ra, má hóp vào, teo tóp, cũng gầy giơ xương như chị, mắt đờ đẫn như người không còn hồn, người ta vẫn nâng ngồi dậy mặc quần áo như thời đương chức đương quyền để chụp hình chụp ảnh đưa lên báo chí, lên truyền hình nên tôi lại tự an ủi để nhẹ đi, dịu bớt đi những xúc cảm thương chị. Có lẽ sau chuyến thăm quê lần này, không bao giờ tôi gặp lại chi tôi nữa. Chị Kỷ. Thương chị lắm.

Chú Trung là chú họ của tôi. Vợ của chú quê tôi gọi bằng mự, không gọi bằng thím như ở những nơi khác. Vào căn nhà nhỏ mái tranh thấp lè tè gần chợ Quánh, cái chợ đơn sơ miền núi quê tôi để thăm mự. Thời tôi còn nhỏ, ngôi chợ này họp mỗi tháng 6 phiên, Mồng Một, Mồng Sáu, Mười Một, Mười Sáu, Hăm Mốt và Hăm Sáu Âm lịch. Ngày nay đông dân hơn, nhu cầu tăng thêm nên ba ngày chợ họp một phiên. Nhà thấp lại nóng nực, mự ngồi ngoài hàng hiên tiếp tôi.

Mự cũng đã chín mươi sáu tuổi rồi, chống gậy, dáng đi lom khom nhưng còn khá minh mẫn tỉnh táo. Con cháu đi làm ăn xa. Hỏi, bây giờ mự sống với ai. Trả lời, mự sống một mình. Chú Trung, chồng của mự tham gia phòng trào Xô Viết Nghệ Tĩnh thời năm 1930-1931 bị bắt giam vào Đà Nẵng. Khi được thả ra, chú về nhà ốm đau liên miên rồi mất sớm. Mự được nhà nước trợ cấp theo chính sách gia đình có công cách mạng mỗi tháng mấy trăm ngàn gì đó để sống. Mự nói, chẳng nhằm nhò chi mô con, nhưng mự tằn tiện sống qua ngày được.

Nhìn những bó củi khô, mỗi bó bằng chừng một nắm tay chất ngoài hàng hiên, mự kể, mự sống một mình phải tự đi kiếm củi, tự lo mọi thứ cho mình. Rồi mự nói, không biết đứa mô ăn cắp của mự hai bó củi. Tôi nói lại với mự, chắc mự già gần trăm tuổi, mự lẫn lộn, mự quên chứ ai lại đi lấy vài bó củi bằng nắm tay của người già. Mự nhìn tôi, cười thật nhân hậu dễ thương.

Em gái tôi cũng lại bỏ vào bao thư cho mự mấy trăm bạc. Tôi tránh, nhìn lảng đi chỗ khác. Thăm mự, chuyện trò với mự một lúc, chúc mự khỏe mạnh rồi chia tay. Tôi cũng không dám chụp lấy một tấm hình của mự. Có lẽ tôi là người đa cảm, dễ mủi lòng, không muốn đụng đến những ngọn đèn đã vơi dầu, cạn dầu sắp tắt.

Tôi đã lưu lạc xa quê, sống nhiều chốn nhiều nơi, nhiều xã hội khác nhau. Một đời người trải qua nhiều hoàn cảnh, nay tuổi đời đã ngoài tám mươi, nhìn lại thật khủng khiếp dẫu biết rằng đó chẳng phải riêng tôi. Mấy câu thơ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh lại thức dậy trong tiềm thức tôi:

Không đau khổ lấy chi làm chất liệu

Không buồn thương sao biết chuyện con người

Không nghèo đói làm sao thi vị hóa

Không lang thang sao biết gió mưa nhiều.

Ngày 24-02-2022


 

 Xem Thêm :Đại Ngãi quê hương tôi - Nguyên Lạc (Văn Việt )

Dưới cái nóng 50 độ, dân Trung Quốc nằm ra đường không chịu rời đi để đòi quyền rút tiền

Trần Phong (DNK.News )

Ảnh: Epochtimes.

Ngày 25 tháng 6, hơn 300 người gửi tiền tại các ngân hàng nông thôn Hà Nam từ nhiều tỉnh khác nhau đã gặp nhau trước cửa Cục quản lý ngân hàng và bảo hiểm Hà Nam để phản đối một cách ôn hòa. Họ đã sử dụng tên thật của mình để báo cáo sự bất cẩn và vô trách nhiệm của các quan chức địa phương.

Ngày tiếp theo đó, dưới cái nóng oi bức gần 50 độ C ở Hà Nam, hàng trăm nạn nhân gửi tiền vẫn tiếp tục kháng nghị trước cổng Cục quản lý ngân hàng và bảo hiểm Hà Nam, thậm chí có người còn dựng lều để bày tỏ quyết tâm bảo vệ quyền lợi của mình đến cùng. Theo phân tích của các chuyên gia, mặc dù chính quyền TQ định nghĩa trường hợp này là hành vi ‘hấp tiền’ bất hợp pháp và tội phạm của các công ty tư nhân, ngăn cản người gửi tiền rút tiền, nhưng đằng sau đó có thể là một cuộc hỗn loạn tài chính lớn hơn đang diễn ra.

Nạn nhân gửi tiền kiên quyết bảo vệ quyền lợi, chỉ có một ngân hàng mở giao dịch trực tuyến trong 15 phút

Do vấn đề an ninh cá nhân, một trong những nạn nhân gửi tiền là lấy tên giả là Trần Lịch nói với tờ Epoch Times vào ngày 26/6 rằng, anh không phải là người gốc Hà Nam và hầu hết những người đến Trịnh Châu để bảo vệ quyền lợi của họ lần này là từ bên ngoài thành phố, những người địa phương đến hiện trường chỉ có mấy chục người, đa số đều bị kiểm soát để làm cái gọi là ổn định trật tự, họ chỉ được phép ngồi tại chỗ phản đối, nếu họ ra ngoài thì người nào có công ăn việc làm sẽ bị buộc thôi việc, những người có con em trong độ tuổi đi học thì con em sẽ không được đến trường”.

Anh Chen Yu (Trần Lịch) cho biết, một số người bị say nắng nhưng họ không chịu đi cứu chữa, điều này thể hiện quyết tâm bảo vệ số tiền tiết kiệm của mình cho dù phải chết.

Theo Tianmu News, từ 12h41 đến 12h56 ngày 26/6, Ngân hàng Nông thôn Tân Phương Đông ở thành phố Khai Phong đã bất ngờ mở hệ thống giao dịch trực tuyến, nhưng chỉ mở được 15 phút thì hệ thống đã ngừng hoạt động, rất nhiều người gửi tiền chưa kịp mở tài khoản chuyển số dư của họ.

Trong lúc đó, trang web chính thức của Ngân hàng Nông thôn Tân Phương Đông vẫn có thông báo đóng cửa hệ thống giao dịch trực tuyến. Khi một phóng viên của Tianmu News gọi điện đến Ngân hàng Nông thôn Tân Phương Đông, nhân viên dịch vụ khách hàng nói rằng họ chỉ biết được tình hình sau khi người gửi tiền gọi đến ngân hàng, và câu chuyện cụ thể bên trong vẫn chưa rõ ràng. Hệ thống trực tuyến do bộ phận kỹ thuật bảo trì, các bộ phận khác không nắm được. Nếu hệ thống trực tuyến được mở chính thức, nó sẽ được thông báo trên tài khoản chính thức hoặc trang web chính thức trong thời gian sớm nhất.

Dư luận hoài nghi về sự phớt lờ và né tránh trách nhiệm của Cục quản lý ngân hàng và bảo hiểm Hà Nam

Vào ngày 25 tháng 6, những người gửi tiền là nạn nhân của các ngân hàng nông thôn Hà Nam từ nhiều tỉnh và thành phố đã giơ một tấm bảng ghi rằng: “Các ngân hàng nông thôn Hà Nam cấu kết trong và ngoài để biển thủ tiền gửi của bách tính” và đã dùng tên thật tố cáo các quan chức địa phương.

Nhà bình luận về vấn đề thời sự Vương Hách nói với The Epoch Times vào ngày 26/6 rằng các nhà chức trách hiện đang lấy cớ gian lận tài chính để trì hoãn vấn đề trả nợ, cho nên họ không tiến hành thẩm định hợp lý và bắt đầu các thủ tục của “Quy định bảo hiểm tiền gửi”, cho phép hoàn trả gốc và lãi của khoản tiền gửi không vượt quá 500.000 nhân dân tệ, “phớt lờ thiệt hại của người gửi tiền, và thậm chí cản đường và tấn công người gửi tiền.”

Chuyên gia: Sự bùng nổ của các ngân hàng nông thôn có thể là ngòi nổ của cuộc khủng hoảng tài chính Trung Quốc

Theo Finance Sina, tính đến cuối năm 2021, cả nước có 1.651 ngân hàng cấp thôn và thị trấn, chiếm 36% tổng số tổ chức tài chính ngân hàng cả nước. Theo thống kê từ Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, tính đến quý 2 năm 2021, có tổng số 122 ngân hàng nông thôn là các tổ chức rủi ro cao.

Ông Vương Hách cho biết từ năm 2021, 63 “người đứng đầu” các ngân hàng vừa và nhỏ ở tỉnh Liêu Ninh đã bị bắt. Tháng 10 năm ngoái, đoàn kiểm tra của Ủy ban Trung ương Trung Quốc đã tiến hành kiểm tra các đơn vị tài chính, và 17 quan chức cao cấp đã bị sa thải. “Điều đó cho thấy rủi ro tài chính của Trung Quốc là rất nghiêm trọng. Đặc biệt, các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ và ngân hàng nông thôn có thể trở thành ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng tài chính của Trung Quốc “.

Ông Vương Hách chỉ ra, bốn ngân hàng nhà nước lớn hiện đang hạn chế các giao dịch gửi tiền, rút ​​tiền hoặc chuyển khoản trực tuyến. Chi nhánh Thượng Hải của ngân hàng trung ương gần đây cho biết, chỉ riêng phân phối tiền mặt vào đầu tháng 6 năm nay đã cao gấp khoảng 4 lần so với cùng kỳ năm ngoái.

“Điều này cho thấy nhu cầu tiền mặt trong nước đang tăng cao, và một trong những nguyên nhân quan trọng là sự thiếu sự tín nhiệm vào các ngân hàng, và rủi ro tranh nhau đổi tiền mặt có khả năng lan rộng ở một số khu vực.

❤❤❤❤❤❤

Xem Thêm : Hà Nam: Cảnh sát nổ súng răn đe, đàn áp cuộc biểu tình của những người gửi tiền

TRỞ LẠI NÚI BÀ - NGUYỄN QUỐC NAM

 
TRỞ LẠI NÚI BÀ
 
Chiều nay trở lại Núi Bà
Bóng người và bóng chiều tà đang buông
Suối reo ào ạt đầu nguồn
Nước khua róc rách chảy luồn qua khe
Gió trời thổi đám mây che
Cho người lữ khách e dè bước chân
Chợt nghe có tiếng ve ngân
Lòng bồi hồi nhớ lâng lâng muôn trùng
Lần theo nỗi nhớ ngập ngừng
Bao nhiêu năm tháng tưởng chừng hôm qua...
 
NGUYỄN QUỐC NAM

Mời Xem
 

SAO ANH KHÔNG LÀ BIỂN - Nguyễn Quốc Nam  :

Thế giới Phát hiện mới về tổ tiên loài người ( Hồng Sơn - Zing.News )

Các hóa thạch tìm thấy có niên đại cổ hơn một triệu năm so với quan điểm trước đây, đồng nghĩa tổ tiên loài người xuất hiện cùng thời với loài vượn cổ ở Đông Phi.

Cụm hang động Sterkfontein tại khu di sản thế giới Cradle of Humankind, Nam Phi là nơi đã phát hiện ra nhiều hóa thạch nhất trên thế giới của chi vượn người phương nam (Australopithecus). Trong số đó, hoá thạch "Mrs Ples", được xem là hộp sọ hoàn chỉnh nhất của loài Australopithecus africanus, được tìm thấy ở Nam Phi vào năm 1947, theo Guardian.

Dựa trên các phép tính trước đó của giới chuyên môn, “Mrs Ples” và các hóa thạch khác được tìm thấy ở độ sâu tương tự của hang động được ước tính là khoảng từ 2,1 đến 2,6 triệu năm tuổi.

Tuy nhiên, “theo thứ tự thời gian thì điều đó không phù hợp”, nhà khoa học Pháp Laurent Bruxelles, một trong những tác giả của nghiên cứu được công bố hôm 27/6 trên tạp chí khoa học PNAS, cho biết.

                Khu vực khai quật tại cụm hang động Sterkfontein, Nam Phi. Ảnh: AFP.

Khoảng 2,2 triệu năm trước, Homo habilis - loài sớm nhất của chi Homo - đã xuất hiện trong khu vực. Nhưng không có dấu hiệu của Homo habilis ở cùng độ sâu của hang động nơi “Mrs Ples” được tìm thấy.

“Thật kỳ lạ khi thấy một số Australopithecus tồn tại trong một thời gian như vậy”, vị chuyên gia nói với AFP.

Bên cạnh đó, nghiên cứu gần đây cho thấy bộ xương gần như hoàn chỉnh của loài Australopithecus có tên “Little Foot” đã 3,67 triệu năm tuổi.

Khoảng cách lớn như vậy về số tuổi của “Mrs Ples” và “Little Foot” dường như khó có thể xảy ra, nhất là khi hai hoá thạch chỉ cách nhau một ít lớp trầm tích.

Nghiên cứu cho biết các nhà khoa học trước đây đã đánh giá thấp tuổi của các hóa thạch vì họ tính toán dựa trên đá canxit, loại đá có thời gian hình thành muộn hơn so với phần đá còn lại của hang động này.

Sử dụng kỹ thuật mới, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng “Mrs Ples” và các hóa thạch khác được phát hiện gần đó có độ tuổi từ 3,4 đến 3,7 triệu năm.

Phát hiện mới này có thể làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về lịch sử tổ tiên của loài người.

Dominic Stratford, Giám đốc nghiên cứu tại các hang động và là một trong những tác giả của nghiên cứu cho biết loài Australopithecus ở Nam Phi trước đây được coi là "quá trẻ" để trở thành tổ tiên của giống Homo. Nhưng nghiên cứu mới này cho thấy loài Australopithecus ở Nam Phi đã có gần một triệu năm để tiến hóa thành tổ tiên Homo của loài người.

 

Xem Thêm :
 

Chuyên gia: Biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long chỉ là phần nổi 

MŨI NÉ -Thơ Phượng Hồng và Thơ Họa

  MŨI NÉ , Con đường khó thở lúc chiều lên Tấp nập dòng xe khuấy động miền Mũi Né ngày xưa an ổn giấc Không gian thuở ấy ái êm đêm Biển trờ...