Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Phần 1: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân và Ngân Triều. Bài đăng tưởng nhớ bạn Võ Kim Ngân, Sydney.


 Phần 1: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân và Ngân Triều. Bài đăng tưởng nhớ bạn Võ Kim Ngân, Sydney.

Boâng coû may
Truyện Võ Kim Ngân & Ngân Triều phóng tác
Nhôù …(NHỚ)
Tôi đã trải qua một tuổi thơ hồn nhiên rất đẹp với nhiều kỷ niệm của thuở học trò trường Tiểu học Bào Trai Hậu Nghĩa (Ngày xưa, Trường Tiểu học Bào Trai[1], viết chữ o như thế nầy). Đó là năm học 1954 – 1955 và 1955 –1956, lúc ở tuổi choai choai 13, 14, 15. Hồi đó, mỗi tuần lễ học sinh miền quê phải đi học 6 ngày. Các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu là học nguyên ngày, còn những ngày còn lại, học một buổi. Những ngày học hai buổi, học sinh ở xa như chúng tôi phải giở theo cơm đựng trong một cái“mo cơm” làm bằng bẹ tàu cau, ăn trưa, ngay lớp học của mình, hoặc rủ nhau ăn chung từng nhóm, nơi hành lang, lớp học, hoặc dưới gốc cây điệp to ở hai bên cổng trường.
Sau bữa cơm trưa lúc tan học sáng 10h30, chúng tôi thường rủ nhau kéo xuống đám rừng chồi của con Suối Bào Trai[2] (Hậu Nghĩa) để vui chơi. Chúng tôi thường tản ra thành nhiều nhóm thân quen để cùng chơi chung những trò chơi nhỏ, lùng sục, các lùm bụi, học ôn bài…vì buổi chiều vào học lúc 2giờ.
Có nhóm đi hái những trái dại, tìm kiếm những loại trái cây rừng mà có thể học sinh bây giờ, khó lòng biết được. Chẳng hạn như trái nhãn lồng, trái nhãn chài có vị mát miệng; trái bời lời, trái cò ke làm đạn bắn ống thụt bằng trúc, đạn nổ lốp bốp vui tai, chia phe bắn vào nhau rất hồi họp. Trái nhăn chín màu đỏ như cái nanh heo rừng; lủng lẳng trên những dây leo mảnh mai; ngọt ngọt. Trái kim cang từng chùm đính trên một dây gai, lá to bằng bàn tay, ăn lờ lợ, nhớt nhớt. Trái chùm gởi từng ổ, trên những cành cây trăm cao, nhỏ như trái cùm nụm ăn vui miệng. Trái mây rắc (mây rừng) ăn chát chát; trái chùm mòi, trái dấm chua chua. Trái mua có 5 cánh hồng, khi chín mở thân ra làm hai với năm múi tím đen ngọt ngọt thường có nhiều kiến hôi. Trái đu đủ rừng (trái đ.. chó), trái và lá có nhiều lông tơ trị ho, chát chát, ăn không khéo, mắc nghẹn. Trái táo rừng chua ngọt khắp nơi trên những nhánh nhỏ nằm ngang, đầy gai nhọn và nhiều nhất là trái cà na trong mùa mưa, cà na đắng, cà na chua, trái nù mới ngon và trái trăm đen sẫm khi chín, trăm móc, trăm sắn; mùa trăm chín rộ là sau Tết Nguyên Đán. Những trái to thì có những trái Bình Bát, chín vàng trên những cành cây khó trèo, tàng cây de ra hai bên bờ suối. Những trái Dứa Gai thơm lừng lựng nhưng không ăn được vì rất ngứa miệng. Những trái Ồi rừng, Ổi lộn kiếp, cơm mỏng hạt nhiều, chẳng đứa nào muốn hái ăn và những trái điều[3], điều nếp màu vàng và điều đỏ trông rất đẹp mắt.
Nhóm con gái chúng tôi thường bẻ những hoa dại xinh xinh. Hoa Dù Cồn đầu có một núm tròn nâu trên một cọng ngồng cao, điểm những cánh hoa vàng nhỏ xíu, mọc bạt ngàn trong các vũng nước. Hoa Cây Nổ màu xanh biếc, cánh hoa mỏng manh, trái từng chùm như chân gà con; khi thả chùm trái khô vào nước, trái nở ra và phát ra những tiếng nổ lách tách như tiếng pháo chuột. Hoa Bí Bái màu trắng thơm thơm đặc trưng. Hoa Cắt Lồi thân thẳng như một cái roi mây. Trên đầu roi có một búp hoa tròn màu đỏ kết một chùm trái bằng nắm tay, nở hoa trắng liên tục, hết hoa nầy đến hoa khác, thường có mấy chú ong bầu chui vào hút mật. Hoa Dây Chiều màu xanh tím, gắn trên một thân dây leo có một lớp lông tơ cứng. Hoa Cúc Rừng nho nhỏ như đôi hoa tai, màu cam lấm tấm thơm thơm. Hoa trắng tím của dây Chùm Bao (Lạc Tiên) rất dễ thương; những trái chín tròn màu vàng trong một cái bao lưới trắng, ăn chua chua ngọt ngọt.
...
Có mấy bạn thường rút những tàu lá Dứa gai để thắt những chiếc chong chóng dứa, những trái banh dứa để đánh đũa, đôi dép dứa, chiếc đồng hồ đeo tay bằng dứa, cả những sợi dây nịch dứa và chiếc kèn bằng dứa nữa.
Cũng có bạn đi tìm những tổ Ong Lá, mang về làm mồi đi câu cá rô. Bạn bắt tổ Ong Lá rất tài. Chỉ cần một mảnh giấy xếp dọc, rón rén đặt giấy phía dưới tổ ong, châm lửa đốt. Khói lửa bốc cao, bầy ong bảo vệ tổ sợ lửa bay xa, còn trơ tổ không là bạn thò tay bắt lấy (ha ha... chiều mai mình sẽ câu được một đục cá rô đấy!) Hoặc có bạn cao hứng bứt những dây Bòng Bong và những sợi tơ hồng để kết làm chiếc mão đội làm tướng, huơ tay múa chân, vuốt râu, lắc nghiêng cái đầu mới học được trong tuồng hát bội của đoàn Sơn Đông mải võ lưu động đi bán thuốc quảng cáo:
-Ải ải…Ta là Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê[4] đây!
-Xin hỏi Tiết Đinh San, cầu Phàn Lê Huê ở đâu vậy?
-Thì ở Cầu Phàn Lê Huê, chớ ở đâu!
-Cầu Phàn Lê Huê chắc là một cái cầu có trồng nhiều cây “lê”.
-Chắc là ở miền “quê” rất xa…
-Bậy nào! Chắc là ở tiệm tạp hóa “Mai Huê” gần trường mình đó mà…
-Ừa hén! Cái cầu thì phải có suối, có sông. Tiết Đinh San ở cầu nào, ở đâu cũng được mà…
-Hát tiếp đi! Đinh San ơi!
-Ải ải…
Có nhóm bạn đằm thắm hơn, rủ nhau leo lên cây trăm học bài, nhìn các bạn khác chơi, nhìn trời, nhìn đất, tán chuyện vu vơ rất vui:
-Ước gì mình có cánh như tiên, bay lên trời cao chắc là vui lắm!
-Bạn có cánh, tụi nầy không cánh. Bay một mình, đâu vui! Tui ước cái cây trâm nầy hoá thành cây đa, tụi mình bay lên trời như Chú Cuội…Cây nó chở mình bay chầm chậm, nghiêng qua nghiêng lại…bay lên mặt trăng luôn…đêm đêm nhìn xuống thế gian …
-Ý! Không được đâu! Lên trên ấy, làm sao mà về… nhớ nhà, nhớ cha mẹ, bà con…và nhớ đứa em mình nữa…
-Chắc là mình mượn cái thang của Chú Cuội và Chị Hằng leo xuống, về nhà, đi học mà…
-Thôi đi bạn! Tui không chịu đi đâu! Biết sao không! Nếu tụi mình leo xuống, về nhà thì trần gian sẽ bị biến đổi hết. Chuyện Từ Thức lên Tiên mới có một năm mà khi về trần thì ở trần gian đã trải qua mấy trăm năm lận…Coi chừng, tụi mình cũng như vậy à nghen!
-Còn tui thì tui muốn có con ngựa sắt, chiếc roi sắt…như Phù Đổng Thiên Vương[5]…đi đánh giặc Ân xâm lược, cứu nước, cứu dân…[6]
-Hay đó! Cô mình kể, Thánh Gióng đã lên ba tuổi, cứ nằm chờ sứ giả, không thèm nói năng gì hết. Giặc Ân xâm lược nước mình, tiếng nói đầu tiên trong đời của ông là “tiếng nói yêu nước, thương dân”, tiếng nói xin đi đánh giặc cứu nước…
*
-Giặc phương Bắc điêu trá, hung tàn. Muôn đời, lúc nào lũ nó cũng lăm le thôn tính nước mình. Nước mình tuy nhỏ hơn chúng nhưng vua biết nghe theo ý dân, biết trọng nhân tài, dân mình đoàn kết một lòng… nên một khi chúng nhào vô nước mình kiếm ăn, vơ vét thì đều bị đánh tan tành, thê thảm…
-Như Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, chặt đầu Thái Tử Hoàng Thao. Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên, chiến thắng Bạch Đằng; Thoát Hoan cùng đường, sợ chết vì cung tên tẩm độc nhà Trần, phải chui vào ống đồng cho tàn quân kéo chạy về nước.
-Năm 1789, Hoàng Đế Quang Trung đánh tan giặc nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị hồn xiêu, phách lạc; đại bác nước Nam sao đặt được trên lưng voi (?); quân nước Nam từ dưới đất xông lên, hay trên trời bay xuống; đến nỗi thân hắn không kịp mặc áo giáp, lưng ngựa không kịp thắng yên, không kịp đem theo ấn tín…
-Kinh hồn bạt vía, quân giặc khiếp đảm, giẫm đạp lên nhau, cố chạy thoát thân, chạy cong đuôi như chó, hoảng loạn quang quác như gà…, thây phơi thành núi, máu chảy thành sông…
-Các bạn thuộc bài giảng của cô mình khá đấy! Đố bạn nào còn nhớ cô mình giảng một câu đối của sứ nước ta, hạ nhục Vua Tàu Nhà Minh không?
-Ờ ờ…Tui chỉ nhớ vua Tàu nhà Minh muốn sỉ nhục nước Nam trước các chư hầu, mới ra câu đối:
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục [7]
Sứ nước mình [8] khảng khái liền “chơi lại” ngay:
"Đằng Giang tự cổ huyết do hồng[9]
-Hóa ra “gậy ông đập lưng ông” nhục nhã trước chư hầu, mới hạ lệnh giết sứ nước mình đó.
-Quả là anh hùng tử, khí hùng nào tử! Cao cả như Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma[10] nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”.
(Trước thời điểm đó khoảng 300 năm, trong bài Bạch Đằng Giang phú 白 藤 江 賦, Ông Trương Hán Siêu [?-1354] cũng đã hạ bút hai câu ngời ngời thiên cổ…
至 今 江 流
終 不 雪 恥
Chí kim giang lưu,
Chung bất tuyết sỉ.
Đến nay sông nước tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.
-Bạn con thầy giáo, nói hay quá, chắc là…chắc là sau nầy sẽ “hổ phụ sanh hổ tử”! “Con thầy giáo, sẽ làm thầy giáo”.
-Còn bạn thì không phải là con thầy giáo chắc? “Cái mộng ngành y, nhân đạo cứu người”, có giấu được ai…
-Ha ha…
…..
Khi hơi chán thì ngồi xúm xít dưới những tán cây cao hay những đám cây mặt cật, nói chuyện gẫu rù rì. Thời gian như ngừng đọng, lặng im. Thỉnh thoảng có tiếng cất lên, gọi tên nhau ơi ới và nhiều lúc nói cười vang rân.
Dòng suối Bào Trai hiền hòa, không sâu, nhiều chỗ nước ngang đến bụng, có thể lội băng qua được. Tôi rất sợ lội qua suối vì suối có rất nhiều đỉa. Muốn biết có đỉa không thì lấy cây khoắn xuống nước, rồi chờ xem. Đỉa mén lội phăng phăng ngang dọc hàng chục con; mấy con đỉa trâu, dài hơn gang tay, màu đen, có sọc vàng hai bên lưng, túa ra tìm mồi. Trông nó vẫy đuôi dợn sóng mà ớn lạnh xương sống …
Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc tắm suối. Đứa thì biểu diễn “thả ngữa”, đứa thì “lội ếch”, đứa thì “lội chó”, đứa thì “lội đứng, lội sải, lội đập”, rồi bất chợt chia phe té nước vào nhau, nước văng tung tóe. Chơi chán, từng đứa leo lên bờ, co giò, bịt mũi, nhảy ùm xuống nước, lặn đua... Tiếng la hét hòa lẫn với tiếng cười sằng sặc, in ỏi, bất kể câu nói cảnh giác của ai đó:
- Mấy đứa! Coi chừng đỉa chun lỗ tai !
Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc (!) tắm suối
Đến đây, tôi chợt nhớ đến một chuyện kể, cảnh giác về đỉa mà tôi được nghe hồi đó. Và câu chuyện này, chính là lý do làm cho tôi sợ đỉa.[11]
Ghê quá! Biết nhóm nữ chúng tôi sợ đỉa, còn có một vài bạn “rắn mắt” bắt đỉa để nhát hoặc bắt đỉa “lộn thinh”[12] trong cành cây nhỏ rồi vừa quăng đỉa về phía chúng tôi vừa la to “Đỉa đó”! Không biết phản ứng như thế nào, chúng tôi hét lên “Oái”, rồi xanh mặt chạy thật xa, không dám ngoái lại và để nghe phía sau lưng, một tràng cười dài đắc thắng. Những buổi đi chơi giữa giờ buổi chiều thường nhiều màu sắc như vậy đó!
Những cuộc đi chơi rất vui, giúp chúng tôi gần gũi, thân thiết nhau. Chúng tôi không sợ trễ giờ vì có trống trường “kêu gọi” bằng một hồi dài và 3 tiếng báo hiệu trước chừng 5 phút. Chỉ cần chạy một mạch là về kịp lúc sắp hàng vào lớp. Thường thì chúng tôi thả lần về trước, nhưng cũng có vài lần, đang mải mê vui chơi, bỗng nghe trống điểm, phải ù té, hào hễn chạy về trường, quăng bỏ hết dọc đường những “chiến lợi phẩm” của mình đã làm ra hoặc kiếm được, mệt muốn đứt hơi, mà vui.
Những ngày học một buổi, nghỉ buổi chiều, chị Tám rủ chúng tôi đi vào nhà một số bạn bè trong xóm chơi; thường thì chúng tôi kéo về nhà chị ở xóm Gò Cao, khoảng giữa hai làng Đức Lập – Tân Phú Thượng. Chúng tôi ham vui và hiếu kỳ, nên đi ngay, sau khi xin phép gia đình. Nhóm chúng tôi; trai có, gái có, ở chợ có, ở xóm khác có; thường khoảng hơn chục bạn, cùng đi theo chị.
Có lúc đi ăn xoài chua, chấm mắm đường tán; đường tán được gọt bằng một cái lưỡi hái; tham ăn xót ruột. Có lần, rủ nhau đi ăn trái trăm, trăm sắn hoặc trăm móc để rồi môi và lưỡi đứa nào đứa nấy đều tím đen. Có khi đi ăn điều chín, điều đỏ, điều vàng ngọt ngọt, chát chát để rồi sau đó, chị gom góp hạt điều cũ, nướng mẻ hạt điều, xịt khói cháy đen, rồi đập vỏ lấy ruột ăn, béo lạ. Có dạo cùng đi hái trái cà na, trái nù mới chua ngon, ăn với mắm ruốc, chát chát, chua chua rất ngon. Số cà na còn lại, chừng một rổ, cả nhóm ăn chán rồi, chị Tám và chúng tôi lấy dao khía dọc thân trái mấy đường, đem ngâm muối với cam thảo, khi đi học chị lại đem theo vào lớp để “nhấm nháp” trong giờ chơi, vui miệng. Hái cà na, vui nhất là cảnh, một bạn trai, làm người hùng, “leo cây hái trái”. Can đảm lắm! Nhưng khi bạn leo lên cây thì cành động. Cành động thì lũ kiến vàng túa ra tấn công. Kiến vàng tấn công cắn bạn đỏ ở tay chân, ở cổ, cả mặt mũi… Lũ kiến đặc nghẹt, “mãnh tướng nan địch bầy kiến vàng”! Bạn phải lật đật tuột xuống gốc cây như bay, như nhảy xuống đất, nhăn nhó để các bạn trai khác xúm nhau…phủi kiến. Và buồn cười nhất là bạn đó phải ba chân bốn cẳng chạy ra chỗ khuất, chắc là có mấy con Kiến Vàng xung phong cắn vào… chỗ kín!
Nhớ có lần, để tổ chức bữa trưa, chị Tám đảm đang, phân công người nào việc nấy rất khoa học.
Nhóm nam đi kiếm rau: rau muống, rau nhút, rau dừa, nhổ bông súng đỏ và bông súng chỉ, nổi dưới ao nhà; hoặc nhổ rau chóc, lá hẹ, rau bợ ngoài ruộng nước; hái rau tiêu (rau càng cua) ngoài bờ tre; kiếm rau dền cơm, dền gai, dền điều, (không hái dền voi) rau đầu rìu quanh nhà, bẻ đậu rồng, mồng tơi ngoài rào và có khi đào trùng câu cá hay câu ếch trong ao. Câu ếch thì rất dễ! Mấy bạn đi bắt một con nhái sọc ngoài ruộng, móc vào lưỡi câu trê, không quên ngắt một đoạn ngồng cỏ mần chầu làm một cọng “lông hồng”, để lưỡi câu không dính vào bụi cỏ. Bung sợi nhợ hướng vào lùm cỏ ở góc bờ ao, nhấp nhấp… hễ có ếch là ếch nhảy đến ăn mồi liền. Nó rất tham ăn. Nó đã ăn mồi! Đừng vội! Chờ một tí cho nó ngậm mồi vào trong cái miệng rộng của nó xong, giật ngược hướng ngồi của nó hoặc giật bổng là không sẩy con nào cả. Trong khi đó, có mấy bạn đi móc ếch, hoặc móc cua trong hang cua.
Vào mùa mưa, nước ngập ruộng, mới vào vụ cày lật, các bạn trai đi nhũi một lát là được một nồi kho: nào là cá lòng tong, cá trào cửng, cá ròng ròng, cá trê con, nào là cá chạch nhỏ, cá sặc rằn, cá sặc trắng, cá bãi trầu, nhiều nhất là cá rô binh tích hay cá rô hạt bí và cua con. Đôi lúc được rất nhiều con bù niễng, con ăn mày, con đòn gánh, con cà cuống… và cả mấy con đỉa trâu nữa! Bỏ rong rêu, rác rến, chỉ bắt những đối tượng ngon lành…và chuẩn bị chế biến kho quéo...
Nhớ có lần nghe các anh chị công cấy hò đối đáp với nhau:
-Hò ơ ớ…Thương anh em bẹt cẳng ra,
Để anh đứng giữa…đẩy mà một hơi!
-Hò ơ ớ…Sỗ sàng, bất nhã…những lời,
Trông anh thanh tú, coi trời bằng vun!
-Hò ơ ớ…Câu đố tục, đâu phải khùng,
Giảng thanh không đúng… em “tùng xẽo”[13] anh!
Hò ơ ớ…Vậy sao, thì đáp cho nhanh,
Nếu mà lố bịch ta đành… xa nhau.
-Hò ơ ớ…Đây nè, anh giải đáp mau,
Anh đố cái Nhũi…em đâu có ngờ!
Ai trong sáng, ai lờ mờ?
Cái Nhũi, đi nhũi cá, Google-images
(Giải câu đố tục giảng thanh về cái nhũi:
-Thương anh em bẹt cẳng ra; là hai cái gọng nhũi.
Để anh đứng giữa…đẫy mà một hơi; là thao tác đi nhũi cá.)
*
Chị Tám và chúng tôi chắt ruột cá lớn, gỡ bỏ mai cua lớn, đánh vải cá lớn, bẻ cánh bù niễng, cà cuống và ngắt mỏ nó, rửa sạch, làm đồ kho, ướp muối, ướp nghệ, nước mắm, nửa tán đường, bỏ hành, bỏ tiêu, một ống bột ngọt, năm bảy trái ớt Xiêm đỏ, kho quéo…thơm ngon hết ý…
Nhóm nữ chúng tôi trổ tài làm nước chấm tỏi ớt, lấy nước mắm trong một cái “tĩn”, (một loại hũ bằng sứ thô nung, hình quả bóng đá, miệng và đít tóp lại, miệng tròn, có thể đưa bàn tay vào và miệng có trám lại bằng một cái nắp vũm thường bằng sứ thô màu đỏ bằng đất nung, có dung tích chừng 5 lít), hay nước chấm tương hột có trộn đường, có món mắm chua cá con do chị làm sẵn và nấu canh rau với tôm khô, bột ngọt hoặc mấy con cá, mấy con ếch câu được trong ao nhà. Nhiều bữa cơm “cây nhà lá vườn” tại nhà bè bạn hoặc nhà chị, thường đơn sơ đạm bạc; “ba tay chụm lại”, mỗi bạn một tay; sao mà ngon miệng lạ lùng.
Nhớ có bận, chị Tám, các bạn và tôi, về quê ngoại tôi ở Lục Viên, mùa mây rắc và gùi. Trên đường đi, có biết bao tiếng chim ca lúc nhặt, lúc khoan nghe rộn ràng, thanh thản. Nhạc khúc đồng quê thân thương của những loài chim bay lượn đầy trời, khắp nơi trong các hàng cây, bụi rậm, trên những con đường mòn, đường mồi,[14] chúng tôi đi ngang qua…như những âm thanh ngân nga, say đắm của một thời đất nước thanh bình, trong lịch sử xa xăm.
Kìa, có con chim chiền chiện nào, cứ khoe tài ca hát. Nó bay vút lên trời thật cao rồi nghiêng cánh cho thân mình rơi xuống đất từ từ, đồng thời cất lên một liên khúc dài trong trẻo, ríu rít, nôn nao. (Có đứa bảo đó là chim sơn ca).
Phía bên hàng tre cao nhà ai, chim sáo, chim cưởng bay từng đàn, gọi nhau lảnh lót. Tôi cứ tưởng như mình đang ngậm viên ngọc rắn của Công Dã Tràng nghe xem loài chim nói chuyện thế nào. Tiếng chim hoành hoạch cất tiếng “học… học …học… nhớ nghe bạn…nhớ nghe bạn…” bằng một hơi rất nhanh như tiếng nói của Ông Thiện từ bi, trong khóm dây chùm bao rậm rạp, (học mà chơi…chơi mà học! Học thời như gấm thêu hoa, Có văn, có chất mới ra con người). Tiếng Chim Cu thư thả, giục giã: “cực cứ tu…thì tu”, “cực cứ tu…thì tu” hoặc “tu chửa được…tu chửa được…” như tâm trạng của ai, muốn thoát tục, lánh chốn bụi hồng mà hãy còn tiếc nuối …
-À! Đố các bạn giải được câu ca dao:
“Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”
-“Ngu” là rất kém về nhận thức, ứng xử, ngây ngô, dại dột …để có thể bị mắng chửi, bị nhận lãnh trách nhiệm vô cớ…điều mà bản thân chẳng nên nhập cuộc, dính vào.
-Nói rõ vì sao ngu đi!
-Vầy nè: Một là “làm mai mối”, môi giới cho đôi trai gái nên vợ, nên chồng.
-Đó là xe duyên tốt phúc. Sao ngu?
-Đành rằng đó là việc nghĩa, tốt phúc. Nhưng “chén úp trong sống chén còn khua” huống chi vợ chồng trăm năm, dễ dầu gì gia đạo cứ mãi thăng hoa, mà “không tiếng chì tiếng bấc”, không to tiếng cãi nhau…
-Và khi ấy người làm mai mối bị đem ra mắng chửi…là ngu, đúng không?
-Đúng rồi! Làm mai mối chi mà phải bị chửi, bị mang tiếng là ngu si. Đại để “Tiên tổ cha đứa nào mối lái kết duyên x…với y… mà sự thể thế nầy”. “Mẹ kiếp cái thằng cha z đó, chớ ai?”
-Ha ha…
-Còn lãnh nợ thì rõ ràng rồi. Tự nhiên đứng ra lãnh nợ cho người thứ ba. Người ta không trả nổi hay quịt nợ thì bản thân mình phải trả vì người chủ nợ chỉ biết người vay nợ là mình mà thôi…Vậy là ngu, “thầy pháp ăn, bắt thầy chùa chịu”. Tình ngay lý gian, phải đem tài sản mình ra gán nợ, mà mình có tiêu xài gì cho cam, lắm lúc cười ra nước mắt![15]
-Ờ hén! Còn chuyện đi “gác cu” hay bẫy cu?
-Các bạn biết đó, người đi bẫy cu, có đồ nghề là một “cái lụp” hai ngăn có ngụy trang, ngăn trong đặt con cu mồi, ngăn ngoài để mở, có một nút bẫy. Cái lụp được gắn chặt với một đầu của một cây trúc đá làm sào, dài khoảng 5-6 mét. Đến điểm gác cu, chỉ cần đưa cái lụp đó lên cành cây hay cành tre cao, đầu sào còn lại, cắm vào mặt đất cho chắc để cố định cái lụp phòng khi có gió mạnh, cái lụp bị ngả xuống đất, con chim mồi hoảng sợ, tâm lý không tốt, khó có thể bình thường được trong mấy buổi (Thế là phải xách lụp về nhà, dang dở cuộc chơi).
Khi đã đặt xong cái lụp trên cao là yên chí núp ló, ngồi rình, chờ đợi trong một cái thum (chỗ núp, ngụy trang sơ sài bằng cành cây gần đó). Việc gác cu bắt đầu có hiệu quả. Đã được huấn luyện, khi ấy, con cu mồi bắt đầu cất tiếng gáy vang. Đám cu bổi (cu đối tượng đánh bẫy) nghe tiếng gáy liền bay đến tìm con cu mồi để đánh đuổi. (Đứa nào, ở đâu…mà dám xâm nhập lãnh địa của ta?!). Nó bay đến chỗ chim mồi, chui vào cửa của cái lụp đó, hung hăng, xù lông cổ, xòe cánh, giương mỏ tác chiến…nhưng vừa quay qua, quay lại…chân chạm vào nút bẫy…cửa ngoài của cái lụp liền sập xuống, chú cu bổi quay đão lung tung, cố tìm đường thoát ra trong vô vọng. Chỉ chờ có thế, người gác cu chạy đến hiện trường, nhẹ nhàng hạ sào xuống, một tay vừa mở cửa ngăn ngoài của cái lụp ra, tay kia thò vào tóm con cu bổi ngu dại, cho vào một cái lồng không. Thế là được một con cu bổi, một cách dễ dàng. Ngăn ngoài cái lụp lại được mở ra, cài chốt bẫy và được đặt lại vị trí cũ…Người gác cu quay lại “cái thum” (chỗ núp ngụy trang), chờ đợi, ngồi rình…
-Như vậy, gác cu, đâu có nghĩa gì…là ngu?
-Ngu chớ sao không! Này nhé, nông dân mình thường cư trú tại đất nhà, trong một vuông rào có lũy tre bao bọc, vuông rào nhỏ thì khoảng 30-50 cao, vừa vừa thì 70-80 cao, rộng lớn thì 1-2 mẫu đất, (30 cao là 3.000m2, một mẫu là 10.000m2). Ngoài khu vực nhà ở, chuồng trâu bò, chuồng gà vịt, chuồng heo…là vườn rau, vườn cây ăn trái, ao cá…Vườn cây yên ắng, thanh bình, rậm rạp,“đất lành chim đậu”nên có nhiều loài chim cư trú, làm tổ, cả ngày tiếng hót líu lo… nhất là có nhiều bầy cu về ở…
Từ sáng sớm tinh mơ, người chủ gia đình đã ra đồng cày ruộng, đắp bờ, tát nước, rải phân cho lúa…trẻ em đều đi học trường làng, ở nhà chỉ có người già hoặc vợ nhà nội trợ…Gác cu thì núp ló, rình rập chim gần hay trong vuông rào nhà người ta…khiến cho người ta nghi ngờ là phường đạo chích giả bộ gác cu …để sẽ làm một “ phi vụ” (một đêm ăn trộm…bằng ba năm làm!) như trộm gà, trộm vịt, trộm cá, trộm những công cụ nhà nông, trộm vặt…mà tệ hại nhất là lợi dụng người chồng bận rộn công việc đồng áng, không có ở nhà, giả bộ gác cu, vào nhà xin nước uống, hòng tán tỉnh, ve vản vợ người ta…Cho nên, người chủ gia đình, khi có mất trộm món gì đều nghi ngờ nhắm ngay đối tượng người gác cu…Như vậu gác cu thiệt thòi cho danh dự và đạo đức của mình…chưa kể là bị chửi lén huyên thuyên…Bị chửi là ngu…đúng không?
-Rất chí lý! Rất hay! Chắc là thầy ở nhà đã giải nghĩa phải hôn?
-Đâu có, khi hầu rượu cho Ba mình và Thầy Ba láng giềng, mỗi chiều, nghe chuyện “trà dư tửu hậu”, đàm đạo mà biết đó thôi.
-À! cái ngu cuối nữa, “cầm chầu là sao?
-Bồ nói nghe chơi!
-Cầm chầu là đánh trống khen chê, hay dở về cách trình diễn của diễn viên trên sân khấu trong một đám hát dân gian như là đoàn hát bộ lưu động đến làng mình hoặc hát trong các dịp kỳ yên, cúng đình. Người cầm chầu đám hát là một trong 12 hương chức trong ban hội tề. Ban nầy, nếu không có ai cầm chầu thì cử người có uy tín, giàu có… sành điệu hát tuồng. Đó là người lèo lái cảm hứng dân gian, phẩm bình hay dở thay cho công chúng qua tiếng trống. Khi các vai diễn thể hiện câu ca, lời hát, điệu bộ, pha trò hay… thì người cẩm chầu đánh trống khen hay, bằng cách hai tay gõ trống, vừa đủ nghe, một hồi trống ngắn dài trên mặt trống, “tung tung…tung tung”, như cho điểm khen, nhiều hay ít. Ngược lại là trống chê dở cách trình diễn chưa đạt hoặc dở tệ bằng một hồi ngắn hoặc dài, trên tang trống, lắc cắc… lắc cắc… để tạo không khí hào hứng và để các diễn viên điều chỉnh màn trình diễn của mình…
-Mình chưa hiểu, sao như vậy là ngu.
-Nói dài dòng là vậy. Ba mình nói, “thiên hạ, trăm người ngàn ý, làm người khó lắm, vi nhân nan, vi nhân nan...
-Hí hí…vi mo nan… vi mo nan…làm cái mo cau khó lắm…
-Ha ha…Ha ha…
-Do đó, khi người cầm chầu đánh trống khen hoặc chê, thì thế nào cũng có nhiều người phản bác, bất bình chửi thầm. (Thằng cha già lãng nhách, vô duyên, ngu ngốc…dở như vậy mà cũng khen! Hoặc người ta diễn hay như vậy…mà lại chê! Như vậy, đó là bị chửi…là ngu…
-Hiểu rồi! Trong bốn cái ngu ấy có ba cái ngu bị mắng chửi. Tuy bị chửi nhưng vô hại. Chuyện qua rồi thì thôi. Còn cái ngu “lãnh nợ” thật là thảm hại! Mất tài sản vì chuyện tình cảm…thương người, động lòng trắc ẩn nên bị lường gạt…bản thân có vay đâu…mà có trách nhiệm phải trả nợ?
-Thực ra, bài ca dao trên, có giá trị đạo đức, cảnh giác, hướng tới một thái độ sống tốt ở đời. Nhưng phê phán, đánh giá, ứng xử theo “bốn cái ngu” ấy thì phải tùy việc, tùy hoàn cảnh, tùy người mà áp dụng một cách linh hoạt, hợp lý, hợp tình. Quyết định không dính vào bốn cái ngu trên…là một điều thái quá; mà sự gì thái quá thì không tốt.[16]
-Hay quá hén! Sao chữ “ngu”có nghĩa không hay như thế mà đời nhà Hồ lại đặt quốc hiệu nước mình là Đại Ngu vậy cà? Hồi đó, dân nước mình “ngu” lắm phải không?
-Đâu phải vậy. Quốc hiệu “Đại Ngu” có nghĩa “an vui”, “tên một triều vua nước Tàu”. Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, Hồ Quý Ly đặt quốc hiệu như vậy với hoài bảo xây dựng một nước Đại Việt mới, như nước Ngu thời Ngu Thuấn, một trong ngũ đế thời thượng cổ, lấy dân làm gốc, hùng cường, thịnh vượng, an vui. Tiếc thay, vì chế độ nhà Hồ,(1400-1407) không được lòng dân (vì cướp ngôi nhà Trần) nên sớm bị tiêu vong.
( Đại Ngu 大 虞: an vui, hòa bình, thịnh vượng khác với ngu 愚 không thông minh).
Vừa đi đường vừa chuyện gẫu cho quên đường xa. Còn tôi cứ như tiếp tục ngậm ngọc…
Kìa! Có tiếng chim Tu Hú “thuyết pháp”, hô hào, còn chần chờ chi nữa, mà không đi tu: “tu hú… tu hú…tu hú!...” Nghe lạ tai và buồn là tiếng Chim Mồ Côi kêu thương không ngớt như lạc đàn, như bơ vơ vang vọng, như nức nở tìm kiếm người thương trong gia đình: “Ba…má…anh…đâu mất tiêu rồi!
Ba…má…anh…đâu… mất tiêu rồi!
Xa xa, đàn cò trắng nào đậu rải rác trên những đám ruộng hay đứng trên lưng trâu rình mồi. Cò ma vàng sậm thường kiếm ăn chung với cò trắng hoặc gật gù trên những cành mềm trên bờ ao. Khi giật mình bay bổng, luôn luôn xưng danh nó ra, (mầy tưởng không ai biết tên “cò” chắc?!): “Cò…à! Cò à! Cò à!…” tiếng kêu của nó khàn khàn, khô khốc. Mấy chú Chim Chài Chài mỏ nhọn dài, lông cánh màu xanh biếc-ức vàng sậm, canh mồi chăm chỉ trên các cành cây lộ thiên, sát bên mộ cái ao cứ chú mục vào mặt nước ao với cai mỏ gật gù. Kìa! Nó lao xuống nước như chớp rồi bay lên chỗ cũ. (A! nó bắt được một con mồi tươi rói, một con cá lòng tong ngon lành).
Chim đa đa hót: “Coi chừng giặc…xa xa…”
Lũ Quạ thì khác, lúc nào cũng la hét, thở than: “họa…hoạ mà…”, “họa…hoạ mà…”, như hãy còn nguyền rủa cho nỗi nhục nhã đau thương của đất nước trong dĩ vãng 1000 năm đô hộ. Có tiếng chim quốc kêu: quốc…quốc…quốc…”, khắc khoải, đau lòng. Tiếng chim đa đa nghe như tiếng Hồn Quê luôn cảnh giác, nhắc nhở: “Coi chừng giặc…xa xa…”, “Coi chừng giặc…xa xa… Tham vọng thôn tính láng giềng truyền kiếp của giặc phương Bắc.[17] Tiếng chim bìm bịp như bổ sung cho những câu nói liên tưởng, cứ lặp đi lặp lại trong tâm trí tôi, như phỉ báng lũ tàu khựa tham tàn. Bọn cầm quyền mập ú, núc ních đó, dẫu bề ngoài thơn thớt nói cười nhưng trong huyết quản của chúng, lúc nào, bọn chúng cũng chỉ là một lũ gian trá, thâm độc. Phải chăng con chim bìm bịp nôn nao giục giã kêu lên, như một hồi trống trận dài… cho con nước, lúc “con Nước” Sông Vàm Cỏ Đông chuyển dòng từ “nước lớn” sang “nước ròng” ?!:
“Đồ bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…”
Bìm bịp kêu Nước lớn hỡi ai!
Hiểm sâu, độc hại! Tẩy chay đếch cần.
Tiếng chim chích chòe cất cao lời phê phán bằng một tràng dài huyên thuyên lảnh lót như “trăm[18] tiếng Tây”. Con chim chích nhỏ xíu, bay bay chớp chớp theo mỗi lượt vỗ cánh lên cao như “nhảy cừu”, cũng hô hào “ghét…ghét…ghét…”,
“bết…bết…bết…”.
Bầy chim se sẻ trên những đọt cây cau cứ rộn ràng đấu khẩu với nhau: “nè…nè…nè…”,
“thù…thù…thù…”.
Thỉnh thoảng, khi chúng tôi đi ngang qua mấy bụi rậm, vài con chim mỏ nhác, hay con chim cút nào thấy người sợ hãi, bay vù, làm mấy đứa yếu vía, giật mình, đánh thót, phì cười…
(Tôi cứ ngỏn ngoẻn cười thầm một mình, hoang tưởng coi như đang ngậm viên ngọc nghe tiếng loài vật của Công Dã Tràng, nghe chúng nói lên tâm trạng và cảm nghĩ của chúng và thả hồn theo những trang sử cảnh giác, quật khởi của bản lĩnh Việt tộc, qua tiếng chim có ý nghĩa thú vị, bên tai).
(Cắt bỏ một đoạn vì quá dài)
...
Thế là không hái được một trái gùi nào cả, loại trái cây rừng mà chúng tôi háo hức muốn ăn cho biết vị. Vòng vo, lùng sục một lúc quanh mấy bụi mây rừng tua tủa gai, chúng tôi chỉ còn hái được hai quài mây rắc chín và một rổ quài mây rắc còn xanh.
Theo hướng nhà ngoại tôi gần đó, chúng tôi rảo bước đi, một hơi là đến. Gặp Ngoại, các bạn lễ phép, khoanh tay, cúi đầu: “Thưa Bà Ngoại”. Riêng tôi đứng ra giới thiệu bạn bè với Bà. Ngoại tôi mặc một chiếc áo túi trắng, tóc bạc phơ, mắt đã lòa, nhưng tai còn tỏ và hãy còn sõi lắm. Bà vỗ nhẹ lên đầu các bạn với giọng cười hiền lành và giục tôi bắt gà làm cơm, nhưng cả bọn thưa rằng đã ăn trưa rồi, chỉ muốn ăn mây cho vui thôi.
Nhanh như tép nhảy, Chị Tám lẹ làng suốt những trái mây ra một cái rổ long mốt, xối nước, rửa cho hết bụi bám vỏ, đâm giập “mây xanh”, để nguyên vỏ, trộn nước mắm, một ít đường, một ống bột ngọt, một ít tiêu và ớt bột cay cay…Trộn đều, thế là xong! Chị và mấy đứa con gái chúng tôi trịnh trọng đặt giữa bàn tròn một thau tráng men đầy trái mây xanh đã chế biến và một chồng chén dĩa, muỗng, đũa.
-Mại dzô! Mại dzô! Các bạn ơi! Ngon lắm!
-Mây xanh nóng hỗi, vừa thổi vừa ăn nè!
-Ăn mây…là ngậm, là nuốt mây, cưỡi mây như Tôn Tẫn, Bàng Quyên…
-Như đằng vân, đứng trên đám mây, mây bay vùn vụt hén!
-Xí! Làm sao bay được…Dụ con nít, xưa rồi!
-Ha…ha…
-Mây nào cũng mây mà!
-Khác nhau là cái chắc. Mây trời có hái, có ăn được đâu!...
-Đố các bạn, vật gì mà “chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy?”
-Khó à nghen!
-Là tên bạn Thu Thủy, là nước đúng không?
-Chắc là tên của bạn Triều, nước thủy triều đó!
-Hay là tên của 2 bạn Vân, Vân Đặng, Vân Trương, vân là mây, mà mây cũng từ hơi nước mà ra thôi…
-Phải tên bạn Ngọc, bạn Thoa (Khanh)…đâu ai dám đem đồ trang sức quí giá của mình mà chặt, mà phơi…
-Có lẽ là tên của bạn Thu Hương, Xuân Lan…Hương không nắm được, Lan đâu dám nâng mạnh tay…
-Vậy là tên các bạn Xuân, Sĩ, Sửu, Hầu, Lợi, Nhơn, Đức, Nhuần (Văn), Minh Tân, Nhính, Lý (Ba), Chạng, Cuống, Thu (Yếu) Chị Tám và Ngọc Chân, em út của Kim Ngân… tên có nghĩa riêng, bứt chữ rời ra thì không thể được…
-À, vậy, cũng như tên Lê Kim Quynh, Nguyễn Thị Nhiên, tên hai lớp trưởng, của tụi mình, chắc là phải gắn ví nhau suốt đời, làm sao bứt rời ra được…
-Ờ hén! Cũng như tên của 2 bạn Ngân nè, Ngân Võ và Ngân Nguyễn, âm thanh làm sao lấy được mà chặt, mà phơi…
- Ờ! Hay quá! Hay quá! Đủ một số tên các bạn hay chơi chung với nhóm bọn mình …Tên một số các bạn ở hai lớp nhứt A,B…Câu đố nầy rất có ý nghĩa…
-Vậy là nhóm mình có nghĩa “Chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy” nhen!
-Hi vọng là như vậy đi! Ha…ha…
-Kha …kha…
…..
-Đố bạn nào giải được:
“Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu điu lại nở ra giòng liu điu”.
-Là theo nòi giống. Ai tài giỏi, bao dung… thì con cháu tài giỏi, bao dung... Ai hèn hạ, độc ác, ngu ngốc… thì con cháu hèn hạ, độc ác, ngu ngốc…
-Theo truyền thuyết và lịch sử, dân tộc mình là con rồng cháu tiên, khí phách anh hùng, có lòng nhân nghĩa. Chẳng hạn, Giặc Minh vô cùng tàn ác, thế mà khi chiến thắng vẻ vang bọn chúng, Ta chẳng những không trả thù, chẳng những tha mạng không giết hại mà còn cấp lương thực, ngựa xe, thuyền bè…để chúng về nước, đoàn tụ người thân…Chúng cứ nghĩ Ta giả vờ như vậy nhưng trên đường về…hạ thủ độc thủ như bản chất của chúng (suy bụng ta, ra bụng người)…cho nên tán đỡm kinh tâm, thất kinh hồn vía, đâu biết, đó là tinh thần đại nghĩa , chí nhân của dân tộc ta.
-À! Tui nhớ rồi, Cô đã giảng như vậy và đọc cho lớp mình nghe mấy câu trong bài Bình Ngô Đại cáo. Vầy nè:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn.
Lấy chí nhân mà thay cường bạo…
*
“Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà tim đập chân run…
*
-Dân tộc mình thật là bản lĩnh…
-Đoàn kết, yêu nước, có lòng trắc ẩn…
-Các nhà viết lịch sử đã sử dụng rất nhiều…rất nhiều từ ngữ và hình ảnh hoa mỹ để ca ngợi bản sắc Việt Nam…
-À! Có phải rắn liu điu có nọc độc, có đuôi thật dài, ám chỉ sự thâm độc và cái đuôi chệt của giặc phương Bắc, “ba tàu”?
-Rõ như ban ngày, ai mà chẳng biết!
-Dân mình thì có lòng quảng đại như rồng, bay tận chín tầng mây. Bọn giặc ở phương Bắc thâm độc, như là loài bò sát dưới đất, rắn liu điu, chui rúc ở những nơi dơ bẩn, hôi thối…
-Chưa hết đâu, Cô mình nói, khi đô hộ nước mình, bọn giặc Minh rất là độc ác, thối tha… bài Bình Ngô Đại Cáo còn rành rành ra đó:
Độc ác thay! Trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay! Nước Đông Hải khôn rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất dung tha!
Ai bảo thần dân chịu được.
-Phải chăng dân ta kêu nó là “Tàu khựa” hay “Chệt khựa”; “Đồ dơ dáy, hôi tanh, tỡm lợm”?
-Chắc là…có thể là …đúng vậy!
-Thầy mình đã giảng, bất cứ ở thời đại nào trong lịch sử, xưa nay chúng nó đều có âm mưu thôn tính nước ta nhưng dân Việt mình rất bản lĩnh, rất yêu nước, rất anh hùng…trẻ già, nữ giới, thiếu nhi một lòng hi sinh, quật khởi đấu tranh nên Tổ quốc Việt Nam mình mới trường tồn, mới không bị đồng hóa, không thể nào mất gốc…
-Thật vô cùng tự hào Tổ quốc Việt Nam nước ta!
-Tổ tiên mình…muôn năm!
-Ha ha…
[Ngân Triều bổ sung: Mãi sau nầy tôi mới đọc được mấy câu thơ hào sảng về Tổ quốc Việt Nam, cũng không nhớ tên bài thơ và hoàn cảnh sáng tác, xin được ghi lại để tham khảo:
Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững,[25]
Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa.
Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng,
Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hòa.
Huy Cận.
Tứ thơ như tổng kết lịch sử đấu tranh oai hùng, bản sắc, tâm hồn Việt Nam và khẳng định nước ta, một đất nước “sừng sững”trường tồn vĩnh cửu, sánh vai cùng các nước quốc tế trong năm châu, bốn biển; một dân tộc hiên ngang, bất khuất, nhân ái, bao dung]
Liu điu lại nở ra giòng liu điu.
Vừa ăn vừa tán gẫu. Bầu không khí tở mở, đầy tiếng nói cười rôm rã, quên luôn lời khen lịch sự cho món “mây xanh”. Song, tôi không thể nào quên cái hương vị đậm đà của nó hơi chát chát, ngọt ngọt, mặn mặn, ăn trệu trạo, nhai nhai nhè nhẹ luôn cả hột, khi nuốt vào, cảm nhận cái dư vị ngọt ngọt của nó, đọng lại nơi thực quản, ngon ơi là ngon. Tuổi mới lớn, ăn gì cũng ngon…Nhất là bữa ăn đơn sơ lồng trong một bầu không khí vui tươi, rộn rã tiếng cười giòn tan không dứt…
Nhớ có lần, chúng tôi rủ nhau đi nhổ nấm tràm ở vạt tràm cháy của Nội tôi tận ấp Đức Ngãi (Làng Đức Lập, Đức Hòa, Chợ Lớn). Rất hên! Chúng tôi đi hái nấm đúng mùa. (Tức là vào thời điểm sau những cơn mưa chập chũm của tháng ba âm lịch, nắng nóng có sao, đồng ruộng khô cằn. Trên những đám ruộng, chỉ còn trơ gốc rạ ngả nghiêng, trên những bước đi trên con đường cỏ may cát trắng, gió làm tung bụi mịt mù). Gió chướng buổi chiều xa đưa, sau những chiếc xe bò trên đường đất, cuồn cuộn những vầng bụi cát trắng, bay thấp thoáng qua những dãy ruộng và tan biến sau lũy tre xanh.
Khi đến nơi đã định, chúng tôi tỏa ra, lùng sục nấm tràm với nhãn quang của Tề Thiên Đại Thánh(!), đôi mắt sáng cứ chăm chăm chú mục vào những gốc tràm. Cuối cùng, chúng tôi thu hoạch được rất nhiều nấm tràm, đựng đầy trong những chiếc nón lá và các nón bàng con trai. Mỗi lần gặp một ổ nấm tràm, tiếng reo mừng tở mở, vang rân…
Đến nhà, dồn đi dồn lại, “chiến lợi phẩm” nấm tràm rất nhiều, đầy 5 chiếc nón lá và một số nón bàng. Để riêng ra một số nấm làm quà đem về gia đình, còn lại, lặt gốc, bỏ đất dơ, ngâm rửa với nước muối… Rồi chúng tôi lấy cái nồi to nhất của Nội, thường dùng nấu cơm cho công cấy ăn, hoặc sử dụng riêng cho ngày giỗ, nấu được khoảng nửa nồi cháo nấm tràm, thơm ngon hết ý, “khao quân”. Nấm đen đen, trắng trắng, búp búp; có gạo rang thơm; có đậu xanh hòa quyện; có mấy con cá lóc cựu còn sót lại trong cái ao sâu của nhà, nay đà cạn nước; mấy bạn nam quậy nước đùng đùng rồi thò hang bắt được; tóm thêm ba con ếch bự nằm “mà” dưới đống “rơm nhao” trên bờ ao; có “bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm”; có đường, có bột ngọt, có muối, có gừng…
(Chị Tám rất thạo việc nấu ăn, đứng bếp. Chắc là chị thường đi phụ đám tiệc ở quê nên mới có những chiêu làm bếp tuyệt vời như thế. Sau nầy có gia đình riêng, chắc là thế nào chị cũng một “nội tướng” đảm đang. Mà thật vậy, tôi thấy ở chị có những phẩm hạnh tốt của người phụ nữ nông thôn như: xinh đẹp, vui vẻ, mến khách, chu đáo, ngăn nắp, quán xuyến, tháo vát, tài ba…)
Chẳng mấy chốc, mùi cháo nấm tràm thơm ngon lan tỏa khắp nhà, nghe cồn cào trong bụng. Sau khi múc ra để dành phần cho Nội, Chị Tám với khuôn mặt ửng hồng, do đứng bên bếp lửa, khả ái, tươi cười, đon đả:
-Ăn đi các bạn, cháo nhiều lắm, nấm tràm mát lắm, học bài mau thuộc!
Thế là một nồi cháo to, một thoáng hết sạch. Bữa ăn còn gắn với những chuyện vu vơ, trêu ghẹo lẫn nhau, những câu chuyện têu tếu, vô thưởng vô phạt…và những tràng cười hồn nhiên, hể hả.
Chị Tám rất dễ thương qua nụ cười và giọng nói hiền lành. Chị quả là một “đầu đàn” của bọn tôi thuở ấy.
Nhà tôi ở, ngay ngã tư Đức Lập, còn gọi là Ngã Tư Mây Tàu, thuộc ấp Mây Tàu, giáp ranh với Rẫy Ông Ầm.[26]
Mỗi ngày tôi thường đi bộ theo đường tắt để đến trường Tiểu Học Bào Trai. Bộ ba “tam sênh” của chúng tôi gồm chị Tám, Thoa và tôi luôn luôn đi chung với nhau. Có bạn hỏi chúng tôi đi học bằng phương tiện gì, tôi cười đáp vui là đi bằng xe “lô ca chưn”. (Mặc dù bấy giờ còn có xe thổ mộ, lộ trình Đức Lập- Bào Trai, khách lên đầy xe thì xe lóc cóc khởi hành. Dân chúng và học sinh đi xe đạp, rất hiếm thấy).
Mỗi sáng, Khanh và tôi đi từ Đức Lập đến nhà chị Tám (Gò Cao) đường đá lởm chởm, hơn 1km. Rồi ba đứa chúng tôi tiếp tục đi khoảng 1km đường đá đó (TL 😎 mới đến đường tắt. Con đường nầy thực ra là một “lối mòn”, do nhiều người đã từng đi qua mà thành. Hai bên lối mòn ấy giăng đầy bông cỏ may, men theo rừng chồi của bờ suối Bào Trai, dọc theo vuông rào lớn của ông Bộ Tao, đi qua một vạt đất trồng đậu phộng, băng qua một mương nước cập lộ 10, qua cống suối Bào Trai là đến trường, độ chừng 1,5 km.
Đi bộ tổng cộng 3,5 km.
Có lần tôi thử tính đường đi học của mình:
-Đường đi học và về mỗi ngày 2 lượt: 3,5km x 2 =7km.
-Đường đi học và về trong 1 tuần, 6 buổi là :7km x 6 = 42km.
-Đường đi học và về trong 1 năm, 32 tuần là: 42km X 32= 1.344km.
*Đáp số: Trong một năm học, một nữ sinh tên Võ Kim Ngân đi được 1.344km.
Thật là một kỷ lục khá lớn! Đường đi học trong một năm của tôi dài xấp xỉ bằng đường dài từ Sài Gòn đến Hà Nội, mặc dù, bấy giờ tôi chỉ biết Sài Gòn, Hà Nội, và cả cố đô Huế, qua quyển sách Địa Dư, do cô mua, phát ra vào dịp đầu năm học. Bộ ba chúng tôi đi bộ như vậy chẳng nhằm nhò gì, vì hãy còn gần, khi so với phần lớn các bạn ở vùng trên: Tân Mỹ, Gò Sao, Rừng Muỗi, La Cua … Đường xa gấp đôi, gấp ba lần đường đi của chúng tôi, mà vẫn… lon ton… ôm cặp cuốc bộ.
Đường xa thì mặc đường xa… chúng tôi cũng có những trò vui nhỏ trên đường đi học về. Thú vị nhất là ngắm và bắt những côn trùng bay quanh bờ suối. Dễ phát hiện nhất là mấy chú ong bầu. Lưng nó màu vàng nghệ, bụng màu đen. Khi bay, nó kêu o… o…rầm rì.
Ong bầu hút mật
-Kìa! Nó đang chui vào hoa cắt lồi hút mật! Để tui bắt, đem về cho nó hát bội nghe chơi!
- Nó chích đau lắm đó!
-Để tui bắt cho coi! Nè! Biết cách bắt thì dễ ợt hè!
Chị Tám chuẩn bị cái khăn tay (mouchoir), khi ong bầu chui vào đài hoa ngang của hoa cắt lồi hút mật, chị lấy khăn túm lại như làm một cái túi tròn, đặt sẵn ở bên ngoài. Khi hút mật xong, ong chui nhanh ra khỏi hoa, là nó rơi ngay vào cái túi khăn ấy. Chị liền lẹ làng túm khăn lại. Thế là được một chú ong bầu trong chiếc khăn tay.
(Ngày nay trẻ em thường dùng túi nilon đề bắt ong bầu).
Rồi hai chú, ba chú…Chỉ cần một con cũng đủ. Nhiều ong hơn thì hát bội vui hơn, con nầy hát mệt thì con khác thay...Có khi hai ba con cùng hát một lúc, trẻ em rất ưa thích…
-Nhưng làm sao cho nó “hát bội” hả chị?
-Đem về đựng mỗi con trong một cái ve chai nhỏ, hay chai nước ngọt rỗng, nhớ làm lỗ thở cho nó. Muốn cho nó hát thì lấy cọng bàng làm que chọc vào nó là nó khắc hát o…o…ò…ò…ọ…ọ….như hát bội rất vui tai. “Tiếng hát” của nó rất đơn điệu, lâu dần sẽ nhàm chán và gây buồn ngủ.
-Vậy à! Cũng hay! Thôi thả nó ra đi chị! Tội nghiệp quá! Mất nó, gia đình nó chắc là buồn lắm! Nó có cha mẹ, anh em, chắc là nó cũng giống như con người!
-Tui biểu diễn bắt ong bầu chơi thôi, chớ ở nhà, tìm một cái ve chai không, đâu phải là chuyện dễ. Cho em bé chơi thôi…chớ mình mà chơi gì nữa! Thỉnh thoảng tui cũng có bắt chuồn chuồn trâu cho tụi nó hoài…
“Thi hành nghị quyết”, chị liền mở khăn ra, tức thì mấy con ong bầu tung cánh bay vút cao lên và bay xa tít. Chúng tôi cứ nhìn theo vòng bay của chúng nó. Ô! Tự do! Có gì vui sướng bằng tự do. Chắc là chúng nó rất vui thích, bay vút một mạch, lượn tít lên cao, rồi khuất dạng trong khóm cây um tùm xa xa.
-Ha ha…Tụi mình vừa thể hiện một niềm vui cho gia đình con ong bầu, phóng thích “tù binh”, cũng như ngày rằm, người ta mua chim, mua cá đến Chùa cúng dường, phóng sinh…
- Chắc là gia đình nó làm tổ ở hướng đó. Mà bắt chuồn chuồn chắc là khó lắm?
Chuồn chuồn trâu xanh
-Dễ ợt thôi! Nhưng về nhà đã. Là vầy: Giống như bắt ve sầu hay hay bẫy chim sắc. Lấy nhựa cây sung hay cây mít, đem nhựa bôi lên đầu cây trúc cao chừng “một với”[27] …rồi đem cắm ở chỗ có chuồn chuồn bay…Bay một hơi, chúng thường tìm chỗ đậu nghỉ cánh. Chuồn chuồn thích đậu trên cao để nhìn tám hướng…Đậu vào…đầu trúc có thoa nhựa cây…là dính bẫy. Hạ cây trúc xuống là bắt…Biết cho con nít chơi sao không? Lấy sợi chỉ buộc vào chân chuồn chuồn. Lúc nắm sợi chỉ, chuồn chuồn bay vòng tròn rất vui. Tụi nhóc thích thú như chơi bong bóng bay. Nhưng bắt kiểu nầy, chân chuồn chuồn dính nhựa, sau dính thêm đất nên chơi không được lâu. Không bằng thò tay bắt nó.
-Nghe nói mình cho con chuồn chuồn cắn rún, khắc mình biết bơi... biết có đúng không?
-Làm sao tin được! Nó cắn đau lắm! Trò lừa dụ con nít xưa rồi! Đâu phải là phép mầu của chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa! Có tập bơi, khắc biết bơi, có học võ nghệ, khắc biết nghề. Có nghề, hễ ai ỷ mạnh, ăn hiếp, đánh mình…thì mình dư sức dùng “miếng trả miếng với nó”. Bộ không nhớ Cô đã giảng cho mình ở bài Đức Dục, Tự lực tự cường sao?
-Ờ hén! Hãy luôn cảnh giác với Giặc Phương Bắc. Lúc nào chúng cũng lăm le xâm chiếm nước mình qua cái bản chất tham tàn, điêu trá …ẩn sâu trong đầu óc quỷ quyệt của chúng. Từ đời Nhà Đinh, Nhà Trần…Ông cha ta lúc nào cũng đã nhắc nhở sâu và di huấn cho hậu sinh.
a/-Thời Đinh Tiên Hoàng (968 -980), có câu:
“Bắc môn tỏa thược”[28]
北 門 鎖 鑰
Cổng vào đền thờ Đinh Tiên Hoàng Đế
còn ghi chữ “Bắc môn tỏa thược” 北門 鎖 鑰
b/-Di chúc của Vua Trần Nhân Tông[29] (1279 – 1293). Lập ra hơn 700 năm trước, đã từng cảnh giác cho muôn đời sau:
“Nếu chúng (Giặc Tàu) không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta. Họ (Tàu khựa) gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.
Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:
“Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”.
-Bạn thuộc bài và tiếp thu lời giảng của cô mình y boong! Cô còn liên giảng gì nữa, nhớ không?
-Đó là hai câu ca dao lịch sử răn đời: Hãy xem cái hèn mạt, phản quốc: “Nước loạn, không cứu; theo giặc, cầu vinh” như Trần Ích Tắc”.
“Cỏng rắn về cắn gà nhà”, như Vua Lê Chiêu Thống, chết lưu vong nhục nhã ở tuổi 28. Đời cha ông anh hùng mà con cháu chẳng ra gì…Ô nhục muôn đời:
“Trăm năm bia đá thì mòn,
Nghìn năm bia miệng hãy còn …trơ trơ”.
-Tui “ghét cay, ghét đắng…ghét vào tận tâm”…những bè lũ bù nhìn, phản dân, hại nước, “theo giặc, cầu vinh”.
…..
Buồn cười, nhớ có lần, Cô Thu dạy thêu “mũi xương cá” trong giờ nữ công. Thoa và tôi, vừa may xong áo bà ba trắng mới, chúng tôi liền thực hành, tự thêu vào bâu áo, trang trí vạt áo của mình bằng những xương cá màu đỏ, rất dễ thương. Có một bạn nam lớp A nào, để ý, gọi hai chúng tôi là “hai nàng tiên cá”. Một cái tên rất ngộ nghĩnh, hay hay. Cũng như có một số bạn nam lớp A gọi bộ ba chúng tôi (Thoa, Tám và tôi) là “ Ba người đẹp Mây Tàu”, (Đức Lập). Phương danh đó rất đúng với hai bạn kia, nhưng với tôi thì chưa đúng lắm. Tôi được Thầy và các bạn nói là hiền thục, dễ thương và các bạn đã từng trêu tôi là Ngân Tóc Hoe.
Hồi đó, thú vị nhất là những ngày được nghỉ học để rủ nhau tùy tiện đi chơi… Nhưng vui nhất là nghỉ lễ Tết Âm Lịch khoảng hai tuần, thường có đoàn hát bộ đến hát. Chúng tôi có dịp đi xem những trò vui dân gian chốn quê trong những ngày Tết.
Sáng mùng một, sau khi mừng tuổi Ba Mẹ, tôi dạo quanh chợ Đức Lập để thấy chợ vắng hoe, người ta nghỉ bán để ăn Tết. Bên hông đình làng, rất đông người; những sòng đỏ-đen cho bà con thử thời vận may mắn đầu xuân. Nào là hai ba sòng lúc lắc “bầu cua cá cọp”, một sòng đánh bong vụ, mấy sòng đánh bài cào, bài cách tê, xì phé và bài tam cúc. Sôi nổi nhứt là “trường đá gà nòi” cá độ.
Cảnh đá gà ngày nay
Có lần, Triều, chị Tám, Ngân, Ngọc, Khanh và tôi cùng đi xem “hát bộ”. Rạp dựng trong sân đình làng, người ta trét vách đất cho kín, rất nóng nực mà cũng rất đông khán giả. Hình như người dân rất khao khát món ăn tinh thần nầy. Chúng tôi chưa hiểu nhiều về sự tích tuồng hát và nghệ thuật của “hát bộ” nhưng xem hát rất vui. Khi vãng hát, chúng tôi dạo quanh những hàng quán lèo tèo trước rạp hát. Đó là những lều che tạm bằng cột tre, kèo tre, mái lều là những tấm liếp xắt thuốc lá. Những điểm dưa hấu, với một đống dưa cao, từ Tây Ninh chở về; quầy hàng nước mía, chủ quán ép mía với hai trục lăn nhôm; sạp nước giải khát là bán nhân sâm ,“sưng sáo”, đười ươi, hột é, đá đậu, bánh lọt, sương sa hạt lựu. Hàng nước giải khát đóng chai thì có xá xị con nai, Limonade, nước bạc hà, bia con cọp Larue. Hàng ăn thì có cháo lòng heo, cháo gỏi vịt, bì bún-chả giò, hột vịt lộn, hủ tiếu mì, bánh canh, cơm tấm và có quán nhậu đặc sản bán rượu “ Đà quốc tửu ”[30] ký hiệu NN, có rất nhiều bác nông dân đến uống.
Cuối cùng, chúng tôi lắc cắc mấy gói đậu phộng rang, mỗi đứa một ly nước mía, ngắm nhìn thiên hạ vui chơi, bàn luận về tuồng hát và giang tay ra về.
Hãy quay lại với con đường đi học của tôi. Cây cỏ may thường mọc trên gò, trên lề đường đá, trên bờ ruộng, nơi nghĩa địa và bạt ngàn trên các lối mòn dọc theo con đường tôi đi học. Cây cỏ may có sức sống mãnh liệt cũng như các loại cỏ khác nhưng khác nhất là mỗi bụi có một cọng cỏ ngồng cao, ngồng cỏ thân tròn, cao khoảng 1,5 đến 2 gang tay. Trên đọt ngồng cỏ đó, có đính một chùm bông cỏ may, khi còn non màu tím, khi trưởng thành đổi màu trắng. Mỗi bông đều có một cái cuống dài khoảng 2 – 3mm rất dẽo dính vào chùm bông. Khi ấbông khô và già, nó sẵn sàng “may” một cách nhiệt tình vào những ống quần dài nào lướt ngang qua nó. Nếu bông cỏ may “găm” vào quần dài chừng 5-10 bông thì không sao. Nhiều hơn, dày đặc hơn là vô cùng khó chịu vì những cái mũi của nó “găm” tiếp vào ống chân, rất ngứa và xót chân. Cho nên, tôi rất ghét bông cỏ may và luôn luôn đi né tránh những bụi cỏ may trên đường đi học. Vậy mà ngày nào cũng như ngày nấy, tôi thường bị những bông cỏ may “quá giang” trên ống quần tôi, theo mỗi lượt đi về. Có lúc, không còn đủ thì giờ nhổ bỏ từng bông, tôi phải dùng bề sống của con dao mỏng cào nhẹ trên vải quần để loại trừ nó cho nhanh…Tuy vậy, việc gì không tốt gắn với ta lâu dần, nó cũng trở thành thân quen. Tôi xem những bông cỏ may như những người bạn đồng hành bé xíu, duyên dáng, dễ thương, của một thời tiểu học nhiều kỷ niệm trong sáng, vô tư.
Bông cỏ may, bông cỏ may ơi!
Duyên đâu mà dệt bước chân tôi?
Mỗi bông găm một niềm vui nhỏ?
Hay nỗi sầu, vương vấn, cuộc đời?
Võ Kim Ngân & Ngân Triều phóng tác
(Còn tiếp phần 2)
***
Cáo lỗi vì bài có rất nhiều hình nên không thể tải được. Mong quý bạn thông cảm.
Ảnh minh họa:
Bông cỏ may

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Phần 1: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân và Ngân Triều. Bài đăng tưởng nhớ bạn Võ Kim Ngân, Sydney.

  Phần 1: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân và Ngân Triều. Bài đăng tưởng nhớ bạn Võ Kim Ngân, Sydney. Boâng coû may Truyện Võ Kim ...