Sau Khổng Dung, Tào Phi, Tào Thực, những người có thành tựu trong
Lục Ngôn Thi thì đời Ngụy có Kê Khang, Tây Tấn có Phó Huyền, Lục Cơ;
Đông Tấn có Dưu thiền, Nam Triều có Tạ Hối, Lương Giản Văn Đế; Bắc Chu
có Vương Bao, Dữu Tín... Đến đời Lương, Trần của Nam Bắc Triều thì Lục
Ngôn Thi đã phát triển khá hoàn chỉnh với 6 câu 3 vần gián cách như bài
"Mạo Tuyết Thi 貌雪詩" (thơ Tuyết) của Lương Chiêu Minh Thái Tử Tiêu Thống
梁昭明太子蕭統 như sau :
既同摽梅英散, Ký đồng phiếu mai anh tán,
複似太谷花飛。 Phục tự thái cốc hoa phi.
密如公超所起, Mật như công siêu sở khởi,
皎如淵客所揮。 Giảo như uyên khách sở huy.
無羡昆岩列素, Vô tiện côn nham liệt tố,
豈匹振鷺群歸。 Khỉ thất chấn lộ quần quy.
Có nghĩa :
Trông như cánh mai rơi rụng,
lại tựa Thái cốc hoa bay.
Nhặt tựa muối rây khắp chốn,
Trắng như vực thẳm thác bày.
Côn nham chập chùng đá trắng,
Lối về cò trắng cùng bay !
Kịp đến đời Đường thì Lục Ngôn Thi cùng với Ngũ Ngôn và Thất Ngôn
thi cùng phát triển và hoàn chỉnh song song với nhau, nhưng quan trường
cũng như quần chúng chỉ chú trong vào Ngũ Ngôn và Thất Ngôn Thi mà thôi,
nên Lục Ngôn Thi bị lép vế, nhưng không vì thế mà bị quên lãng, hầu hết
những thi nhân nổi tiếng của buổi Thịnh Đường đều có Lục Ngôn Thi, như
bài "Điền Viên Lạc" của Thi Phật Vương Duy ở đầu bài viết nầy. Bây giờ
thì ta cùng đọc bốn bài Lục Ngôn Thi của Thi Tiên Lý Bạch tả cảnh của
bốn mùa Xuạn, Hạ, Thu, Đông nhé!
《春景》 XUÂN CẢNH
門對鹤溪流水, Môn đối hạc khê lưu thủy,
雲連雁宕仙家。 Vân liên nhạn đãng tiên gia.
誰解幽人幽意, Thùy giải u nhân u ý,
惯看山鳥山花。 Quán khan sơn điểu sơn hoa.
李白 Lý Bạch
Có nghĩa :
Cửa đối suối trong khe hạc,
Mây liền đàn nhạn bay xa.
Ai biết người nhàn ý tản,
Ngắm quen chim núi cùng hoa.
《夏景》 HẠ CẢNH
竹簟高人睡覺, Trúc điệm cao nhân thụy giác,
水亭野客狂登。 Thủy đình dã khách cuồng đăng.
窗外熏風燕語, Song ngoại huân phong yến ngữ,
庭前綠樹蟬鳴。 Đình tiền lục thọ thiền minh.
李白 Lý Bạch
Có nghĩa :
Đệm trúc cao nhân an giấc,
Nhà sàn khách lạ lăng xăng.
Ngoài song gió đưa én liệng,
Trước sân cây rậm ve ngâm.
《秋景》 THU CẢNH
昨夜西風忽轉, Tạc dạ tây phong hốt chuyển,
驚看雁度平林。 Kinh khan nhạn độ bình lâm.
詩興正當幽寂, Thi hứng chánh đang u tịch,
推敲韵落寒帧。 Thôi xao vận lạc hàn tranh.
李白 Lý Bạch
Có nghĩa :
Đêm qua gió tây chợt nổi,
Giật mình nhạn vượt bình lâm.
Thi hứng lúc đang hiu hắt,
Đẽo gọt vần rơi mất tăm !
《冬景》 ĐÔNG CẢNH
凍笔新詩懒寫, Đống bút tân thi lãn tả,
寒爐美酒時温。 Hàn lô mỹ tửu thời ôn.
醉看梅花月白, Túy khán mai hoa nguyệt bạch,
恍疑雪落前村。 Hoảng nghi tuyết lạc tiền thôn !
李白 Lý Bạch
Có nghĩa :
Thơ xong bút se biếng tả,
Rượu ngon lò lạnh khó ôn.
Say nhìn hoa mai trăng tỏ,
Giật mình ngỡ tuyết ngoài thôn !
Ta thấy kỹ thuật làm thơ đã điêu luyện, bằng trắc phân minh, đối
xứng nghiêm cẩn, ý thơ cao vút không thua gì ngũ ngôn và thất ngôn thi
chút nào cả ! Ta hãy đọc thêm một bài "Lục Ngôn Luật Thi" 《Cách Hán Giang Ký Tử An 隔漢江寄子安》của Ngư Huyền Cơ 魚玄機, một trong "Tứ Đại Nữ Thi Nhân đời Đường" sau đây sẽ rõ :
江南江北愁望, Giang nam giang bắc sầu vọng,
相思相憶空吟。 Tương tư tương ức không ngâm.
鴛鴦暖卧沙浦, Uyên ương noãn ngọa sa phố,
砠矦閑飛桔林。 Thư hầu nhàn phi cát lâm.
烟里歌聲隱隱, Yên lý ca thanh ẩn ẩn,
渡頭月色沉沉。 Độ đầu nguyệt sắc trầm trầm.
含情咫尺千里, Hàm tình chỉ xích thiên lý,
况聽家家遠砧。 Huống thính gia gia viễn châm.
Có nghĩa :
Buồn trông giang bắc giang nam,
Thương nhau nhớ lắm âm thầm ngâm nga.
Uyên ương ấm áp noãn nà,
Côn trùng chấp chới bay ra sau vườn.
Tiếng ca văng vẳng khói sương,
Bóng trăng bến vắng vấn vương một mình.
Dặm ngàn gang tất hàm tình,
Lại nghe tiếng giặt xập xình xa xa.
Bài thơ với đầy đủ "mạo, thực, luận, kết" bố cục của một bài Luật
Thi, hai cặp Thực và Luận đối nhau chan chát, cách luật nghiêm cẩn, trắc
bằng đúng phép không khác gì một bài ngũ ngôn hay thất ngôn luật thi
cả.
Không phải chỉ riêng Ngư Huyền Cơ, Vương Duy và Lý Bạch, mà Vương Xương Linh,Đỗ Mục, Sầm Tham... đều có làm thơ 6 chữ cả ! Theo thống kê của quyển "Toàn Đường Thi 《全唐诗》" thì trong đó có tất cả 75 bài thơ 6 chữ và Lục Ngôn Thi thẳng tiến đến đời Tống, Tô Đông Pha, Hoàng Đình Kiên, Lục Du, Tần Quan... đều cũng có lục ngôn thi. Trong quyển "Thiên Thủ Tống Nhân Tuyệt cú 千首宋人绝句" (Một ngàn bài tuyệt cú của người đời Tống) thì có đến 98 bài là thơ 6 chữ (chiếm tỉ lệ 1/10 của thi tập). Xuyên
suốt qua các triều đại Nguyên, Minh, Thanh và mãi cho đến hiện nay, Lục
Ngôn Thi vẫn luôn luôn tồn tại một cách âm thầm nhưng tích cực bên cạnh các hào quang rực rỡ của Ngũ Ngôn và Thất ngôn Thi nhưng không hề tàn lụi bao giờ.
Để kết thúc bài viết nầy, kính mời tất cả cùng đọc một bài lục ngôn dưới hình thức của một bài từ rất độc đáo "Thiên Tịnh Sa 天淨沙 Thu Tứ 秋思" của Mã Trí Viễn 馬致遠 đời nhà Nguyên :