Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2019

Thơ Đặng Quang Tâm : ĐỢI



Em hãy đến cho nắng hồng đôi má
Trời vào Thu mà như đã qua Đông
Anh vẫn thương vẫn nhớ mãi trong lòng
Vẫn đứng đợi mặc dù em không đến

Sông vẫn chảy nhưng thuyền chưa cặp bến
Đời phù du anh vẫn sống lông bông
Vẫn làm thơ dù tình có như không
Và hẹn mãi mà chưa bao giờ gởi

Anh vẫn đứng vẫn chờ anh vẫn đợi
Ngàn năm sau trăng có ngũ trong thơ
Có nhớ nhung có lắm đợi chờ
Để anh biết thơ anh không tiếng gọi

Để anh thấy em ngồi im không nói
Dù cho anh có viết đến ngàn trang
Vẫn im lìm mặc gió thổi mây tan
Hay cuồn cuộn như ba đào gợn sóng

Anh vẫn đến vẫn đi không tiếng vọng
Vẫn một mình một chiếc bóng đơn côi
Vẫn những con đường ngày hai đứa chung đôi
Anh vẫn đứng vẫn chờ anh vẫn đợi

Em hãy đến cho anh van tiếng gọi
Cho ngàn xưa nối lại với ngàn sau*
Cho nhớ thương dù có mấy dạt dàu 
Chỉ để thấy thơ anh không bờ bến

Anh vẫn đợi mặc dù em không đến
Anh vẫn chờ dù chỉ để làm thơ
Vẫn viết đi mà chưa gửi bao giờ
Ngàn năm nửa anh vẫn còn hy vọng

Dù hy vọng chỉ để rồi hy vọng
Anh vẫn thương vẫn nhớ mãi trong lòng
Trời vào Thu mà như đã qua Đông
Em hãy đến cho nắng hồng đôi má

ĐẶNG QUANG TÂM
(Nhóm Văn Nghệ Trăng Vàm Cỏ Đông)
* Hồ Dzếnh trong bài Ngập Ngừng với câu: “Cho nghìn xưa lơ lửng với nghìn sau”



Nếu trái tim bạn đang bị thương rất đau, xin tặng bạn chiếc băng gạc này…

Những tổn thương dù thống khổ tới đâu, mất mát như cứa da cắt thịt rồi cũng sẽ qua đi. Chỉ là bạn có cho chính mình thời gian hay không mà thôi…
– Mẹ ơi, mẹ đang làm gì thế? Cô bé Susie 6 tuổi hỏi mẹ. 
– Con yêu, mẹ đang nấu món thịt hầm cho cô Smith hàng xóm.
– Cô Smith nấu ăn rất ngon. Vì sao hôm nay mẹ lại nấu cho cô ấy ạ? – Susie thắc mắc.
Mẹ dịu dàng trả lời:
– Vì cô Smith đang rất buồn con ạ. Con gái cô ấy mới qua đời. Trái tim cô ấy đang có một vết thương rất lớn và có lẽ chúng ta sẽ chăm sóc cho cô ấy một thời gian, cho đến khi cô ấy hồi phục. 
Susie vẫn chưa hiểu. Cô bé lại tiếp tục hỏi mẹ:
– Mẹ có thể giải thích thêm cho con được không? Con vẫn chưa hiểu.
– Này nhé con yêu, khi trái tim của một người đang bị thương, họ sẽ không thể làm tốt ngay cả những việc rất nhỏ như nấu bữa tối. Vì chúng ta là hàng xóm của cô Smith, chúng ta nên phải giúp đỡ cô ấy. Phải vậy không?
– Vâng. Tất nhiên là chúng ta cần giúp đỡ cô Smith rồi mẹ ạ. Ôi nghĩ đến cô Smith con thấy buồn quá. Cô ấy sẽ không bao giờ còn có thể nói chuyện, ôm hôn con gái hoặc làm bất cứ điều gì thú vị mà mẹ và con có thể làm cùng nhau nữa. Cô ấy hẳn đang rất cô đơn.
Người mẹ quay sang xoa đầu Susie mắt đã ngân ngấn lệ:
– Con là một cô bé thông minh, Susie. Con có thể nghĩ ra cách nào đó để giúp đỡ cô ấy không?
Susie bắt đầu suy nghĩ nhiêm túc về những điều mẹ nói và cố gắng tìm cách giúp đỡ cô Smith. Vài phút sau, Susie lại chạy vào bếp hỏi mẹ:
– Mẹ ơi, mẹ nói là trái tim của cô Smith đang bị thương phải không ạ?
– Đúng vậy con yêu. Có lẽ trái tim của cô ấy đang rỉ máu.

Tặng bạn một chiếc gạc cho trái tim bị thương đang rất đau (Ảnh: getty)

Susie vội chạy vào phòng lấy thứ gì đó, rồi cô bé nhanh chóng đến trước cửa nhà cô Smith, rụt rè bấm chuông. Mất một lúc lâu cô Smith mới ra mở cửa:
–  Chào Susie, cháu cần gì?
Susie nghe thấy giọng cô Smith rất nhỏ. Khuôn mặt cô rất đau buồn, mắt cô hãy còn đỏ mọng nước. Có lẽ cô vừa khóc:
–  Mẹ cháu nói con gái của cô vừa qua đời và trái tim cô đang bị thương 
Susie e dè xoè bàn tay của cô bé ra đưa cho Smith một chiếc băng gạc cá nhân.
–  Cái này để băng cho trái tim cô ạ. Cháu đã dùng vài lần khi bị thương ở tay và nó rất tốt.
Smith thoáng ngạc nhiên, cô cố gắng để không bật khóc. Cô xúc động quỳ xuống ôm chặt Susie, nghẹn ngào trong làn nước mắt:
–  Cảm ơn cháu yêu. Nó sẽ giúp cô rất nhiều!
***
Nếu bạn có một trái tim bị thương đang rất đau, đừng giam mình trong căn phòng u tối và gặm nhấm nó nữa, hãy thử hướng tầm mắt ra ngoài cửa sổ ngắm nhìn thế giới rộng lớn bên ngoài, hoặc ra ngoài hít hà hơi thở diệu kỳ của cuộc sống, ngắm bình minh lên, đợi hoàng hôn lặn. Rồi bạn sẽ nhận thấy rằng cuộc đời này còn đẹp lắm, rất nhiều hạnh phúc đang chờ đợi mình.
Dẫu bạn có đang cảm thấy kiếp nhân sinh này đầy rẫy khổ đau và vô cùng ngắn ngủi, cũng đừng chỉ suốt ngày trốn trong cái bóng mờ của sự ảm đạm ám ảnh. Nếu cuộc đời đã rẽ vào đường cùng, cũng hãy dũng cảm đứng dậy và tìm một lối rẽ khác. Cho dù là thế nào, bất luận hoàn cảnh ra sao, mong bạn hãy tiến về phía trước, dù chỉ là dò dẫm từng bước, vẫn dũng cảm tiến lên. 
Cuộc đời này vẫn còn nhiều lắm những tình cảm quý giá, đáng để chúng ta trân trọng, như cái đẹp của tình người, sự vô tư thuần khiết của trái tim trẻ thơ, hay lòng tốt từ một người xa lạ… 

Hãy kiên cường như những bông hoa mai trong tuyết. Một ngày không xa ánh bình minh sẽ ló rạng. (Ảnh: pixabay)

Nếu bạn đang buồn đau, muộn phiền, hãy tạm gác tất cả sang một bên. Hãy tha thứ và khoan dung với chính mình. Hãy cho mình một cơ hội được hạnh phúc.
Nếu bạn đang mệt mỏi, tuyệt vọng, hãy tạm quên chúng đi. Hãy cho bản thân nghỉ ngơi một chút, nghĩ đơn giản đi một chút. Vết thương dù sâu tới đâu, để lại vết xẹo xấu xí nhường nào rồi cũng đến lúc phải lành. Những tổn thương dù thống khổ tới đâu, mất mát như cứa da cắt thịt rồi cũng sẽ qua đi. Chỉ là bạn có cho chính mình thời gian hay không mà thôi!
Nếu hôm nay là ngày tồi tệ nhất của bạn. Vậy thì ngày mai chắc chắn sẽ chẳng thể tệ hơn được nữa phải không nào? Hãy để bản thân bước qua ngày hôm nay nhẹ nhàng và bớt đau khổ đi một chút…
Còn bây giờ, tặng bạn một chiếc gạc cho trái tim bị thương đang rất đau…
Trần Phong (daikynguyen.com )

"Trạm Cuối Cuộc Đời Bên Mỹ"

Đây là một bài mới tác giả viết về tâm trạng của con cái khi phải đưa cha mẹ già vào nursing home. Tác Giả tham dự VVNM năm 2015, được giải danh dự trong năm đầu (2016) và giải “Vinh danh tác phẩm” (Á khôi) năm 2017. Ông là một chuyên viên về hưu, đang định cư tại Orange County..

 Sống ở Mỹ khá lâu nên tôi ít nhiều cũng bị ảnh hưởng tư tưởng của người Mỹ nên không có ý định nhờ vả con cái khi tuổi về chiều. Một ngày nào đó khi thấy mình không còn khả năng để tự lo cho mình được nữa tôi sẽ vào sống trong các “Boarding care” để có người chăm sóc, nếu tệ hơn sẽ được hưởng những phúc lợi dành cho người cao niên và được bảo vệ bởi hệ thống an ninh xã hội Mỹ. Ở Mỹ có “Nursing Home” được trang bị đầy đủ phương tiện, kỹ thuật và nhân sự chuyên môn để chăm sóc những người không còn khả năng tự lo cho mình, có “Hospice Service” chăm sóc vật chất lẫn tinh thần cho các bịnh nhân không thể sống hơn sáu tháng, giúp họ ra đi trong yên bình và giúp gia đình họ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất..

Nhưng tư tưởng lạc quan nầy đã hoàn toàn thay đổi từ khi tôi thật sự đối diện với tử thần và nếm mùi bịnh viện sau khi trải qua một cơn bạo bịnh phải nhập viện trong 10 ngày. Tuy đã được thoát chết, vết thương mổ xẻ đã lành, nhưng những đau đớn về thể xác và vết thương tâm thần mà bịnh viện để lại vẫn còn hằn sâu trong ký ức không bao giờ lành. Từ đấy tôi bắt đầu thấy sợ bịnh viện, sợ luôn cả nursing home vì đây chẳng qua chỉ là một hình thức khác của bịnh viện, bịnh viện của người già.

Từ tâm trạng sợ hãi nầy tôi liên tưởng đến 4 năm hãi hùng mà nhạc mẫu tôi phải trải qua trong nursing home trước khi bà mất. Từ đấy những quảng cáo đẹp về nursing home với hình ảnh những cụ già vui chơi hạnh phúc được thay thế bằng những hình ảnh đau khổ của nhạc mẫu tôi và của những cụ già ngồi xe lăn ủ rủ, nghiêng ngả, cong queo, nhễu nhão, những gương mặt mếu máo, những ánh mắt vô thần.

Chúng tôi may mắn được sống chung với cha mẹ vợ vì bà xã tôi là con gái út. Lúc còn khỏe ông bà nhạc của tôi quán xuyến hết mọi chuyên trong nhà để vợ chồng tôi được rảnh tay lo chuyện ngoài xã hội. Hai con tôi gần gũi với ông bà ngoại nhiều hơn với cha mẹ chúng. Đi học về vừa đến cổng nhà là đã réo gọi ông bà ngoại. Tuy nuôi con nhưng thật ra tôi chưa biết thay tã hay cho con bú! Kể cả tiếng Việt chúng nói đều nhờ ông bà dạy từ ngày chúng bập bẹ tập nói.

Nhưng cuộc sống hanh phúc chấm dứt từ khi nhạc mẫu tôi ngã bịnh. Năm 78 tuổi, sau chuyến du lịch Việt Nam về, mẹ nằm suốt trong phòng, than mệt. Ngoài bịnh tiểu đường loại 2 mãn tính, mẹ thường xuyên bị nhiễm trùng đường tiểu, đau cột sống, ho kinh niên và sau đó khám phá ra bị ung thư phổi. Từ đấy bà ra vào bịnh viện như đi chợ. Thiếu bàn tay của mẹ, gia đình tôi rối loạn lung tung, con cái đi học trể, cơm nước thất thường, nhà cửa bề bộn. Vợ chồng tôi phải tập lại từ đầu cách quán xuyến gia đình, nuôi con, thêm nuôi mẹ già trong bịnh viện. Bố cũng yếu chỉ hụ hợ chuyện lấy thơ, đổ rác, đóng cổng là đã than mệt rồi.

Bác sĩ ung thư khuyến cáo không nên mổ xẻ hoặc trị liệu gì cho mẹ vì ung thư đã di căn đến não.. Hơn nữa tuổi mẹ đã quá cao lại bị bịnh tiểu đường nên vết mổ không lành. Hãy để cho thiên nhiên quyết định vận mệnh của mẹ. Tôi dấu nhẹm lời bác sĩ bảo rằng mẹ chỉ sống tối đa là sáu tháng. Mẹ được cho về nhà với lời khuyên “thích ăn cái gì cho bà ăn cái nấy”. Nhưng “còn nước còn tát” chúng tôi không chịu thua, chạy chửa bịnh cho mẹ bằng thuốc nam. Ai bày thuốc gì ở đâu tôi cũng tìm cho được. Khi lái xe mắt tôi cũng láo liên nhìn bên lề đường, dọc theo các hàng rào tìm cây cỏ “Dandelion” để hái lá cho mẹ ăn. Nghe nhà ai có cây nha đam chúng tôi cũng tìm đến xin hay mua cho bằng được. Bà xã tôi cầu nguyện cho mẹ hàng ngày không xao lãng.

Như được một phép nhiệm mầu, bịnh ung thư của mẹ tôi thuyên giảm dần dần và sau mấy tháng khối u trong phổi tự nhiên biến mất.. Bác sĩ gia đình rất vui bảo “đừng thắc mắc, hảy cứ tin là như vậy đi”. Nhạc mẫu tôi thì tin là mình đã hết bịnh thật, còn vợ chồng tôi thì gần như kiệt lực, mong sao phép lạ sẽ kéo dài. Bịnh ung thư không thấy trở lại, nhưng bịnh đau cột sống làm mẹ đau đớn không ăn ngủ được nên sinh ra khó tính. Mẹ lại quên trước quên sau. Mẹ không còn kiểm soát được tiêu tiểu nữa nhưng nhất định không chịu mang tã. Bố cũng già mệt mõi, suốt ngày ngủ trong phòng. Ông bà lại không biết tiếng Mỹ, không dùng điện thoại, nên khi vợ chồng tôi đi làm lúc nào cũng phập phòng lo sợ.

Bác sĩ gia đình đề nghị nên cho mẹ vào nursing home để dễ bề chăm sóc. Vợ chồng tôi đồng ý ngay nhưng gặp sự phản khán quyết liệt của nhạc mẫu tôi. Suốt đời mẹ không bao giờ xa gia đình nửa bước nói chi chuyện cách ly vĩnh viễn! Đối với mẹ, mất gia đình là mất tất cã. Chúng tôi nể mẹ nên không dám nói chuyện nursing home nữa, chỉ sợ làm mẹ buồn ảnh hưởng đến sức khỏe.

Nhưng sức khỏe của mẹ càng lúc càng tệ. Sau lần cấp cứu cuối cùng vì bị ngất xỉu, bác sĩ đề nghị phải đưa thẳng mẹ vào nursing home, vì theo ông, đó là cách tốt nhất để bác sĩ có thể theo dõi bịnh tình và giữ an toàn cho mẹ.

Ngày đầu tiên vào nursing home không ai nỡ bỏ mẹ một mình nên quấn quít bên bà cho đến tối rồi cũng phải ra về. Đó là ngày đầu tiên trong cuộc đời mẹ phải sống lẻ loi một mình bên những người xa lạ. Tôi còn nhớ rõ gương mặt thẫn thờ của mẹ nhìn theo con cháu đang bỏ bà mà đi. Tôi không dám nhìn mẹ lâu hơn vì tôi thấy mẹ khóc, một điều rất lạ đối với nhạc mẫu tôi vốn là người đàn bà can cường và cứng rắn. Bố thấy tội nhiệp đòi mỗi ngày chở bố vào nursing home để ông chăm sóc cho mẹ. Được mấy tuần rồi tôi cũng chịu thua vì chuyện đón đưa hàng ngày thật là bất tiện. Còn nếu để bố đi xe bus nếu có chuyện gì xảy ra thì ai lo cho bố đây!

Từ ngày mẹ vào nursing home vợ chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, không còn phải lo lắng như khi xưa khi bỏ mẹ ở nhà. Chúng tôi yên tâm là mẹ được theo dõi và chăm sóc 24/7. Tan sở vợ chồng tôi chở bố vào thăm mẹ, thấy mẹ sạch sẽ thơm tho, giường nệm trắng tinh, kẻ qua người lại tấp nập vui vẻ lắm. Yên tâm chúng tôi dần dần xao lãng việc thăm viếng. Cả hai cháu cũng không còn đòi đi thăm ngoại nữa, nhiều khi phải bắt chúng mới chịu đi. Chúng không thích cái mùi trong nursing home.

Từ ngày sống trong nursing home mẹ hoàn toàn thay đổi, trở nên trầm lặng, ít nói, khác hẳn với mẹ trước đó “quậy” tưng bừng trong bịnh viện. Mẹ chịu mang tã, nằm yên trên giường, không có ý kiến chuyện chung quanh, không đòi hỏi gì, không còn than phiền đau lưng nhức gối, hay càu nhàu vì thiếu ngủ, mất ăn như lúc ở nhà. Sau nầy mới biết bà đã được cho dùng thuốc an thần và thuốc đau nhức nồng độ cao nên lúc nào bà cũng ở trạng thái lờ đờ lim dim ngủ. Có lúc tỉnh táo, mẹ chỉ nhìn qua khung cửa sổ với đôi mắt vô thần. Hỏi mẹ có đau đớn gì không, mẹ lắc đầu. Hỏi có thích ăn uống đồ ăn Việt Nam không mẹ lắc đầu, tuy tôi biết là mẹ rất ghét đồ ăn Mỹ nhất là khẩu phần cho bịnh nhân tiểu đường và cao máu nhạt nhẽo không sao nuốt nỗi. Mẹ chịu đưng, sống âm thầm không một lời than thở.

Cho đến một hôm mẹ nắm tay nhà tôi, nước mắt rưng rưng mẹ van xin:
- Mẹ muốn chết con à. Con xin người ta cho mẹ chết đi!
Bà xã tôi sững sờ, ôm mẹ năn nỉ:
- Mẹ đừng nói kỳ vậy, phải ráng lên chớ, con biết phải làm sao bây giờ?
Rồi vợ tôi cũng khóc. Tôi chỉ đứng nhìn. “Chúng tôi biết phải làm sao bây giờ”?
Vợ chồng tôi đều nghĩ rằng đã tìm được giải pháp tốt nhất cho mẹ rồi. Mẹ thì đã “ráng” quá nhiều, ráng đến mõi mòn, đến kiêt quệ nên muốn bỏ cuộc. Đã bốn năm dài đăng đẵng mẹ sống nơi đây như cái xác không hồn.
Có lúc chúng tôi vào thăm mẹ vào giờ ăn trưa thấy mẹ ngồi gục đầu trên xe lăn như một em bé ngoan, mắt nhắm nghiền, đợị đến phiên mình há mồm được đút cho ăn. Mẹ không còn thiết tha gì nữa.

Những tháng cuối cùng mẹ nằm trên giường đưa mắt nhìn con cháu, không cử động hoặc nói năng gì. Hình như có điều gì u uẩn trong lòng mà mẹ không nói được hay mẹ có tâm sự gì nhưng muốn giấu kín trong lòng.

Một buổi sáng sớm, tôi nhận được cú điện thoại từ nursing home báo tin là mẹ chúng tôi đã mất đêm qua. Bà mất lúc nửa đêm nên không ai hay biết cho đến sáng ngày hôm sau. Bà âm thầm ra đi không một lời từ giã, không một giọt nước mắt tiển đưa. Chắc mẹ cô đơn lắm lúc trút hơi thở cuối cùng. Suốt đời mẹ lo cho chồng, cho con, cho cháu, ngày mẹ ra đi chỉ có một mình, trong cô đơn. Có ai biết rằng không phải mẹ chỉ cô đơn trong giây phút ra đi mà mẹ đã chết từ lâu rồi, kể từ ngày mẹ bước chân vào ngưỡng cửa nursing home, một nhà tù không cần đóng cửa. Tôi chợt hiểu được tại sao mẹ đã khóc ngày đầu tiên đến nursing home. Ngày ấy mẹ chấp nhận bản án tử hình không văn tự vì muốn hy sinh cho con cái. Ngày ấy mẹ đã khóc lời vĩnh biệt các con cháu rồi.

Chúng tôi vội vã vào nursing home vừa kịp lúc nhìn mẹ lần cuối cùng trước khi người ta phủ kín mặt mẹ với tấm trải giường màu trắng rồi mang xác mẹ đi. Mọi người đứng nhìn theo chết đứng, ngỡ ngàng, đớn đau, nhưng không ai khóc thành lời. Chúng tôi đã biết là ngày nầy sẽ đến với mẹ, và hôm nay nó đã đến.

Cái chết của nhạc mẫu nhắc tôi nhớ lại chuyện cổ tích về chuyện người tiều phu đẩy xe chở mẹ vào rừng cho thú hoang ăn thịt vì bà đã quá già. Tôi có khác gì người tiều phu đó, đã đưa nhạc mẫu tôi vào nursing home để chết. Đến một ngày nào sẽ đến lượt con tôi chở tôi đi như vậy sao?

Tôi lại nhớ đến chuyện con voi già biết mình sắp chết, nó âm thầm đi vào cái “nghĩa địa voi” là cái hang động cho voi đến để chết. Nó âm thầm gục chết một mình bên cạnh những đống xương voi già đã chết trước nó. Tôi chợt nghĩ nếu con người làm được như con voi già thì con cháu không phải cực khổ vì cha mẹ già, không phải khổ tâm vì mặc cảm là đã làm một hành động bất nhân, bất hiếu, như tâm trạng hối hận của tôi bây giờ đối với nhạc mẫu của tôi.
Nursing home. Cái trạm cuối của cuộc đời mấy ai tránh khỏi!
Bạn đã chọn cho mình cách đến chưa?



Tác giả: Chú Chín Cali
(Từ Cảnh chuyển ) 

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2019

CẢM ĐỀ HOA NỞ TRƯỚC NHÀ - Đỗ Chiêu Đức



      早開                          TẢO KHAI
日麗風和春節佳,   Nhật lệ phong hòa xuân tiết giai,
天青草碧燕飛來。   Thiên thanh thảo bích yến phi lai.
門前萬朵花爭發,   Môn tiền vạn đóa hoa tranh phát,
一色鮮紅滿滿開!   Nhất sắc tiên hồng mãn mãn khai !

Diễn Nôm :

                 HOA NỞ SỚM
          Nắng đẹp gió êm xuân nhẹ lay,
          Trời xanh cỏ biếc én vờn bay.
          Trước nhà muôn vạn hoa tranh nở,
          Đỏ thắm một màu rực rỡ thay !

                                            Đỗ Chiêu Đức


*Thầy Đồ Dõm cảm đề hoa nở trước sân nhà LÊ HOÀNG VIỆN, Chủ bút tạp chí Văn Hóa Ngày Nay Houston TX :

Xem :Điển Tích Văn Học 21:CUỐC GỌI VÀO HÈ - Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi
        
        :Điển Tích Văn Học 22 : GÁC ĐẰNG

Vienna: Cuộc cách mạng nhà ở vĩ đại

zeally.net


Tác giả: Andreas Rumpfhuber | Nguồn: The Guardian
Biên dịch: Nhi | Hiệu đính:  Za

Chiến tranh thế giới thứ nhất khiến cho tình hình nhà ở tại Vienna càng tồi tệ hơn bao giờ hết. Ngay từ đầu thế kỷ 20, thành phố này đã gắn chặt với sự nghèo túng – “sáu đến tám người cùng chia sẻ một căn phòng và gian bếp” là chuyện bình thường như cơm bữa, theo nhà sử học Renate Banik-Schweitzer. “Lũ trẻ không có giường riêng mà phải ngủ chung với anh chị em của chúng.”
Ở thời điểm kết thúc chiến tranh, dân số thành phố bị kéo tụt từ 2,1 xuống 1,8 triệu người; trong khi đó, lạm phát dữ dội khiến việc xây dựng những công trình mới trở nên bất khả thi. Điều này dẫn đến tình trạng quá tải dân cư trong các khu nhà sẵn có. Vào năm 1919, chi phí sinh hoạt gần như tăng gấp ba chỉ trong vòng hai tháng. Các biện pháp hợp lệ được đưa ra với mục đích đóng băng việc cho thuê nhằm bình ổn thị trường nhà ở lại chỉ càng khiến vấn đề nghiêm trọng hơn.
Những Bettgeher (người ở trọ) trước đây sinh sống bằng cách thuê lại một buồng ngủ vài giờ trong một ngày vì chẳng có tiền mua nổi một căn hộ riêng, thì giờ đây rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất.” Đến năm 1919, sự khan hiếm nhà ở không còn được đo đếm bằng lượng nhà bỏ hoang, mà bằng số người vô gia cư.
Từng nhóm hàng nghìn người một bắt đầu chuyển ra các vùng ngoại ô thành phố; họ cư ngụ trong rừng, canh tác đất đai và dựng những chòi trú ẩn tạm thời. Ban đầu, những di dân này canh tác theo lối tự cung tự cấp thời chiến nhằm đảm bảo lượng lương thực cơ bản cho gia đình. Dần dần, họ phát triển những khu tập trung di dân thành thị có phần bất hợp pháp trên đất công bằng cách biến các nhà kho để dụng cụ trong vườn thành không gian sống.
Đến năm 1921, những “khu định cư hoang dã” bất hợp pháp bên rìa Vienna chứa hơn 30.000 gia đình sinh sống. Tạp chí National Geographic mô tả chúng như “những mảnh vườn nhỏ đầy hiếu kỳ, với hàng rào dựng tạm và ngôi nhà gỗ nhìn giống nhà vui chơi của đám trẻ con.”

Tạp chí National Geographic mô tả chúng như “những mảnh vườn nhỏ đầy hiếu kỳ, với hàng rào dựng tạm và ngôi nhà gỗ nhìn giống nhà vui chơi của đám trẻ con.” Ảnh: Unsplash
Theo chuyên gia quy hoạch đô thị Peter Marcuse, nỗ lực tự cứu rỗi bột phát này là “ví dụ phổ biến nhất về việc tự cứu lấy bản thân trong vấn đề nhà ở xuyên suốt thế kỷ 20.” Nó đã khởi xướng cái mà ngày nay người ta gọi là kế hoạch nhà ở vĩ đại của Vienna Đỏ1. Kế hoạch này là “một chương trình cải cách cấp tiến của thành phố, được thiết kế để định hình lại cơ sở hạ tầng xã hội và kinh tế của thủ đô nước Áo theo đường lối xã hội chủ nghĩa,” Eve Blau viết trong cuốn The Architecture of Red Vienna (tạm dịch: Kiến trúc thời Vienna Đỏ).
Mặc dù các chương trình nhà ở tập thể cũng được nhiều thành phố châu Âu áp dụng tại thời điểm đó, không đô thị nào khác ngoài Vienna thực hiện một kế hoạch rộng lớn và tham vọng đến như vậy. Theo kế hoạch này, các ngôi nhà nằm rải rác khắp địa bàn thành phố, tạo nên một mạng lưới gồm các khu nhà mới nối liên tiếp với cơ sở hạ tầng công cộng – những công trình mà ngày nay ta vẫn có thể nhìn thấy trong thành phố.
Khoảng 190 kiến trúc sư tham gia vào công đoạn thiết kế những khu định cư mới, bãi đất trống, các căn nhà được xây bao quanh một khoảng sân (courtyard housing), và nổi tiếng nhất là các “siêu khối” (superblocks) – một “phát minh” của thành phố. Đến khi chương trình nhà ở của Vienna Đỏ kết thúc năm 1934, hơn 400 dự án nhà ở đã được xây dựng, đồng nghĩa với một phần mười dân số thành phố được hỗ trợ tái định cư.
“Cần phải nhấn mạnh rằng không có chiến lược tổng thể thực sự nào đằng sau chương trình xây mới nhà ở của Vienna Đỏ, ngoài quyết định xây dựng nhà ở trên quy mô lớn,” chuyên gia nhà ở Michael Klein đến từ Đại học Công nghệ Vienna cho biết. “Những công trình này thật ra là kết quả ngẫu nhiên của chính trị thực dụng, được dẫn dắt bởi câu hỏi: chính quyền thành phố có thể lấy được đất đai ở những đâu.”
Cần phải nhấn mạnh rằng không có chiến lược tổng thể thực sự nào đằng sau chương trình xây mới nhà ở của Vienna Đỏ, ngoài quyết định xây dựng nhà ở trên quy mô lớn.

“Học cách sống”
Từ sau mốc 1919, các khu định cư dần phát triển thành các cộng đồng cố định. Phần đông trong số những cư dân mới là các lao động lành nghề, sau này tham gia vào phong trào lao động, đảng Dân chủ Xã hội, và các công đoàn. Chủ nghĩa cá nhân nhường bước cho những phương thức tập thể trong tổ chức lao động, tạo ra các cộng đồng tự trị mang tính hợp tác, với mục tiêu vượt ra ngoài việc xây dựng và quản lý nhà ở đơn thuần. Phương châm của họ: “Làm việc cho khu định cư là cống hiến cho Chủ nghĩa Xã hội.”
Xây dựng trở thành một công việc mà mọi người đều xắn tay vào đưa ra các giải pháp thiết kế sáng tạo và tiết kiệm chi phí, bao gồm việc cơ giới hóa quá trình xây dựng, chế tạo sẵn, và thay thế vật liệu xây dựng truyền thống. Quá trình này sản sinh ra một nền kinh tế nhà ở tách rời một phần khỏi thị trường tự do.
Thoạt đầu, đảng Dân chủ Xã hội và những di dân này có mối quan hệ không tốt lành lắm: ý tưởng trồng trọt tự túc mà những di dân này khởi xướng được cho là mang tính tư sản-bảo thủ (bourgeois-conservative) và không phù hợp với tầm nhìn vĩ đại của một nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy, thái độ của đảng này đã thay đổi phần nào, nhờ vào Otto Neurath, một nhà kinh tế chính trị và nhà giáo dục, người đã sáng lập tổ chức bảo trợ hợp tác của các di dân vào năm 1921, có tên Hiệp hội Định cư và Vườn tược Áo (Austrian Association for Settlements and Small Gardens).

“Một ngôi nhà riêng lẻ không phải là đối tượng thiết kế; mà nó là viên gạch để xây nên một công trình kiến trúc to lớn hơn.” Ảnh: Unsplash
Ý định của Neurath là loại bỏ sự phân tách giữa sản xuất, quản trị và tiêu thụ, cũng như tạo ra một lối sống hiệu quả để đạt tới hạnh phúc tập thể. Nó trở thành nền tảng tư tưởng của tổ chức lập ra trong phong trào di dân. “Một ngôi nhà riêng lẻ không phải là đối tượng thiết kế; mà nó là viên gạch để xây nên một công trình kiến trúc to lớn hơn,” Neurath viết.
Kể từ thời điểm đó, phong trào di dân “tự phát” được nhìn nhận như một dự án dân chủ-xã hội hợp tác. Phong trào này được hỗ trợ bởi thị trưởng Vienna và một số thành viên đảng Dân chủ Xã hội, cũng như các nhà báo, giới trí thức và kiến trúc sư.
Bị thu hút bởi phong trào di dân ngay khi nó mới chớm nở, kiến trúc sư nổi tiếng Adolf Loos đã tham gia cố vấn không lương cho việc xây dựng nhà ở kể từ năm 1920. Một năm sau, ông trở thành kiến trúc sư trưởng của văn phòng định cư thành phố, và bắt tay vào thực hiện Kế hoạch Phân vùng Vườn tược và Khu định cư (Allotment Garden and Settlement Zoning Plan), cũng như phát triển các định hướng thiết kế và xây dựng nhà ở trong các khu định cư này. “Để trở thành các di dân, chúng ta cần học cách sống,” ông viết năm 1921, nhấn mạnh vào việc thiết kế các khu vườn đã được phân bố sao cho hợp lý.
Khái niệm Ngôi Nhà Với Một Bức Tường (House with One Wall) của Loos có lẽ là ứng dụng kiến trúc mang tính biểu tượng nhất trong thời kỳ này. Trong quá trình thiết kế khu định cư Heubergsiedlung, ông đã phát triển một hệ thống xây dựng cho phép giảm số lượng tường chịu tải xuống chỉ còn những mảng tường chia đôi hai ngôi nhà liền kề, nhằm cắt giảm chi phí và nhân công trong khi vẫn giữ lại tính “tự-tay-làm-lấy” (do-it-yourself) của việc xây dựng.
Thiết kế này phản ánh một cách hoàn hảo ý tưởng rằng một di dân cũng đồng thời là một cư dân, người sản xuất và người tiêu thụ – cũng như là thành viên của hợp tác xã và nhà quản trị. Trong suy nghĩ của Loos, khu vườn – chứ không phải ngôi nhà – mới là nền móng quan trọng cho lối sống tự cung tự cấp.
Một di dân cũng đồng thời là một cư dân, người sản xuất và người tiêu thụ – cũng như là thành viên của hợp tác xã và nhà quản trị.
Thành phố lồng trong thành phố
Phong trào di dân Vienna đã minh chứng tiềm năng của một kiểu tự tổ chức xã hội đô thị chưa từng có tiền lệ. Nhưng, bản thân những khu định cư mới ở ngoại ô thành phố này không thực sự khiến tình hình khan hiếm nhà ở tồi tệ bấy giờ trở nên khả quan hơn. Chỉ đến năm 1922, khi Vienna trở nên độc lập về tài chính sau khi một cuộc cải cách thuế triệt để diễn ra (đánh thuế các mặt hàng xa xỉ và bất động sản), chương trình xây dựng nhà ở đồ sộ được tổ chức bởi đảng Dân chủ Xã hội mới có đủ nền tảng tài chính để bắt đầu đi vào thực thi.
Trong hàng chục năm tiếp đó, 60.000 đơn vị nhà ở – gọi là những Gemeindebau (“tòa nhà thành phố”) – liên tiếp mọc lên trong lòng Vienna Đỏ. Chúng cho thấy một cách tiếp cận thực tế đối với việc cung cấp nhà ở. So với vùng ngoại đô, các lô đất nội đô có lợi thế hơn ở việc chúng được phát triển giữa những cơ sở hạ tầng sẵn có của thành phố, như là mạng lưới các tuyến đường cao tốc và giao thông ngầm, hay hệ thống xử lý nước thải và nước sạch. Chính lập luận này là lý do cho sự ưu tiên phát triển các tòa nhà đô thị nhiều tầng hơn là các khu định cư của đảng Dân chủ Xã hội. (Những dự án này cũng phù hợp hơn với tư tưởng dân chủ-xã hội cho rằng tầng lớp lao động cần sống và trở thành “những hộ gia đình công nhân có trật tự.”)

Với hơn 1.000 đơn vị nhà ở cho mỗi dự án, những công trình rộng lớn này mang đến cho thành phố một khái niệm mới về sự xa xỉ. Ảnh: Unsplash
Nổi bật nhất trong số này là các dự án siêu khối, ví dụ như Rabenhof, Sandleitenhof và Karl-Marx Hof. Với hơn 1.000 đơn vị nhà ở cho mỗi dự án, những công trình rộng lớn này mang đến cho thành phố một khái niệm mới về sự xa xỉ. So với trùng trùng lớp lớp kết cấu đô thị có sẵn từ trước đó, các siêu khối được bố trí bớt dày đặc hơn hẳn; mỗi tòa nhà được bao quanh bởi sân vườn rộng rãi và các cơ sở hạ tầng công cộng như nhà hát, rạp chiếu phim, thư viện, nhà trẻ, trường học, phòng tắm, và hiệu giặt ủi.
Mô hình này cho thấy sự chuyển đổi lớn trong ý nghĩa biểu tượng của các mặt tiền đường phố, vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thành phố hoàng gia. Thay vào đó, các siêu khối giống như những “thành phố lồng trong thành phố,” được thiết kế để hướng về cả hai mặt tòa nhà – đường phố và sân chơi – trong khi quy mô rộng lớn của chúng vẫn gợi nhớ đến quá khứ huy hoàng của Vienna.
Chúng được xem như biểu tượng của một thời đại mới dành cho các công nhân theo chủ nghĩa xã hội ở Vienna – nhưng không phải theo cách mà các nhà cải cách và kiến trúc sư đã hy vọng. Kiến trúc sư Josef Frank thỉnh thoảng đề cập đến khu chung cư Volkswohnpalast một cách đầy mỉa mai, cho rằng nó chỉ là một “cung điện” dành cho dân thường nhưng lại “học đòi” lối sống và kiểu cách của giai cấp tư sản.
Chương trình nhà ở Vienna không phải là một dự án tiên phong, mà cũng chẳng gắn liền với phong trào di dân và tính tự tổ chức của nó. Thay vì đó, mục đích chính của chương trình này là giáo dục tầng lớp lao động trong thành phố trở nên kỷ cương hơn. Nhà tập thể Karl-Marx Hof – nằm ở rìa một quận tư sản giàu có của Vienna – thường chứng kiến đoàn diễu hành hằng tuần của những người hâm mộ bóng đá thuộc giai cấp vô sản: hệt như một cửa ngõ, họ phải đi qua khu nhà này để đến sân vận động lớn nhất châu Âu thời bấy giờ.
Chương trình nhà ở Vienna không phải là một dự án tiên phong, mà cũng chẳng gắn liền với phong trào di dân và tính tự tổ chức của nó. Thay vì đó, mục đích chính của chương trình này là giáo dục tầng lớp lao động trong thành phố trở nên kỷ cương hơn
Tái cấu trúc các khối xây dựng
Nội chiến Áo năm 1933/34, kéo theo giai đoạn cầm quyền của chính quyền phát xít Áo, khiến kế hoạch xây dựng nhà ở của Vienna Đỏ đột ngột dừng lại. Các tòa Gemeindebau chỉ được khởi công xây dựng trở lại sau khi chiến tranh thế giới thứ hai đã đi đến hồi kết; chúng trở thành một công cụ trọng yếu của nhà nước phúc lợi.
Vào những năm 1990, trong khi các thành phố khác ở châu Âu đang rao bán hầu hết các công trình nhà ở tập thể, Vienna tiến hành cải tổ lại kế hoạch nhà ở một thời. Một đề xuất mới được đưa ra – Bauträgerwettbewerb, hay là một cuộc cạnh tranh giới hạn dành cho các chủ đầu tư xây dựng của mỗi dự án mới, nhằm giúp tiêu chuẩn chất lượng luôn được giữ ở mức cao.
“Nó tạo nên đà vận động mới cho thành phố, kết quả là một loạt dự án nhà ở đầy tham vọng và nổi trội về mặt kiến trúc ra đời,” Lina Streeruwitz cho biết. Bà là kiến trúc sư và đối tác của Studio Vlay, công ty hiện đang tham gia quy hoạch một trong những đề án phát triển đô thị trong nội thành lớn nhất tại Nordbahnhof.
Ngày nay, chính quyền thành phố vẫn sở hữu khoảng 22% trong tổng số lượng nhà ở của Vienna; một phần tư khác thì hưởng ngân sách từ nhà nước và được các hợp tác xã phi lợi nhuận cho thuê với giá phải chăng. 60% dân cư thành phố hoặc sống ở các Gemeindebau, hoặc trong các dự án nhà ở tài trợ công.
Nhưng việc thành phố sẽ ứng phó ra sao với mức tăng dân số dự đoán 20% vào năm 2030, chưa kể đến dòng người nhập cư, còn là một câu chuyện để ngỏ. Giám đốc quy hoạch của thành phố, ông Thomas Madreiter, nhận thức được điều này: “Chúng ta cần phải giải quyết những thách thức đang đe dọa hệ thống nhà ở xã hội này bằng một loạt các phép đo lường – xây dựng dày đặc hơn nhưng vẫn phải đảm bảo đủ không gian xanh, và áp dụng những công cụ mới vào chính sách đất đai.
Reinhard Seiss, một cư dân thành thị và đồng thời cũng là một nhà phê bình sống ở Vienna, lập luận: “Các thành phố châu Âu ngày nay cần hợp sức để vượt qua chính sách tài khóa thắt chặt và các biện pháp “thắt lưng buộc bụng,” nhằm đạt tới một chính sách cục bộ bền vững.”
“Chính phủ phải có một chiến lược quyết liệt trong việc tái phân phối của cải chung – bao gồm sự tự do lui tới không gian thành phố – đến với mọi thành phần xã hội, chứ không phải áp đặt theo lối gia trưởng,” Gabu Heindl, kiến trúc sư và chủ tịch Hiệp hội Kiến trúc Áo, nêu ý kiến.
Gần một thế kỷ đã trôi qua. Việc hiện thực hóa phong trào di dân – sử dụng cơ chế hợp tác của nó, nhưng với quy mô lớn hơn – có thể mở ra cơ hội thiết lập một mô hình cung cấp nhà ở cho tất cả mọi người trong tương lai. Và điều này diễn ra không chỉ ở Vienna, thành phố đã đi tiên phong giữa những cuộc chiến tranh.
Thích bài này? Bạn thích zeal, thích sự không-quảng-cáo của website, và muốn zeal phát triển hơn? Chung tay góp sức cho một cộng đồng cùng lan tỏa trí tò mò ở đây nhé.

THÌNH LÌNH ĐUI MẮT


Tục ngữ ta có câu " Bảy mươi chưa què, Chớ khoe rằng lành". Thực vậy, một người bình thường khỏe mạnh, đẹp đẽ, rủi ro có thể thình lình đến làm trở nên tàn phế. Bịnh hoạn xảy ra bất chợt, không biết đâu tiên liệu, đề phòng. 
Mới đây, tôi được tin một người quen cũ ở Việtnam, khỏe đẹp một thời, nay hoàn toàn mù lòa tàn tật từ hôm bà ấy đi nhổ răng cách nay10 năm. Ngay khi răng được lôi ra, bà thấy tối tăm mặt mày, và sau đó chỉ toàn một màu đen tối, bà không còn thấy gì nữa. Tuy rằng đôi mắt bà vẫn mở, nhắm, người chung quanh nhìn vào vẫn tưởng đôi mắt khỏe mạnh như bình thường. Nghe kể lại, vài bác sĩ quen ở đây cho là không phải vậy, vì mắt và răng đâu có liên hệ gì. Nhưng có ai đã học, biết, hoặc kinh nghiệm hết mọi chuyện vì những điều, những kiến thức chúng ta chưa biết tới, chưa khám phá ra mênh mông như vũ trụ. 
Nhân chuyện nầy, Ông Tuấn, một người bạn già của người viết, đem chuyện tối mắt của ông ấy ở Mỹ ra kể lại. 
* 
Cách đây bảy năm, lúc ông Tuấn vào tuổi 60, tốt lão khỏe mạnh, đi đứng nhanh nhẹn không kém một trai trẻ. Tuy có đông con, nhưng tất cả đều đã ra riêng. Từ lúc chúng 17, 18 tuổi vào đại học, và sau khi ra trường, không đứa nào quay lại, nên chuyện gì nặng nhẹ ông cũng lụi hụi một mình. Một sáng thứ bảy mùa hè, ông sắp xếp lại garage. 
Bưng lên bợ xuống một số đồ đạc thường thường, nhưng với tuổi Tuấn lúc nầy kể là nặng và có phần căng gân cốt . 
Sau một hồi hỳ hục, ông vào phòng nằm nghỉ. Bật TV lên xem, ông thấy màn ảnh TV có hai nấc, một nửagiống như ngoài nắng, một nửa như trong bóng râm, và như có vài tia chớp trong mắt. Cảm thấy trong mắt có sự bất thường, tuy không có gì đau nhức đáng kể, ông đến bác sĩ gia đình, không khám biết được gì, nhưng ông được giới thiệu đến bác sĩ chuyên khoa bịnh mắt ở Bolsa. 
* 
Lần đầu tiên đến bác sĩ chuyên khoa giải phẫu mắt, Tuấn không ngờ rằng người ta bị bệnh mắt cũng khá đông. Chờ một hồi lâu, Tuấn được đưa ngồi vào ghế để đọc các chữ E to nhỏ. Ban đầu mắt trái được che kín, để đọc bằng mắt phải. Cô y tá thử tới thử lui một lát, Tuấn chẳng thấy gì cả, chỉ một màu đen mà thôi. Che mắt phải, mắt trái vẫn còn thấy rõ. Tuấn rất ngỡ ngàng sao lại có chuyện khác thường như vậy, vì cả hai mắt lối giờ vẫn tốt đều. 
Sau một lát nhỏ thuốc mở rộng con ngươi, bác sĩ soi đèn vào xem xét, và cho Tuấn biết: Võng mô mắt phải bị rời rách (Retina Detachment, OD). 
Lo sợ, Tuấn hỏi có thuốc hay cách gì chữa trị không" Bác sĩ bảo ở đây không chữa được và sẽ giới thiệu đi nơi khác để mổ. Nghe phải mổ mắt, Tuấn hoảng hốt hỏi: " Mổ mắt rủi làm tôi đui sao"" 
Bác sĩ bảo: " Mắt phải đã đui rồi, còn đui gì nữa". 
Tuấn nhận giấy giới thiệu để đến phòng mạch tư có tên là OC Retina Group ở Santa Ana. Lúc đó đã quá 5 giờ chiều thứ bảy, các văn phòng bác sĩ đều đóng cửa, nên phải chờ đến sáng thứ hai. Về nhà Tuấn rất hoang mang lo sợ, cả đêm nghĩ buồn không ngủ được. Một mắt thình lình vô cớ đã bị mù, và nếu mắt kia cũng có thể theo đà như vậy, thì sống dở chết dở mà thôi. Tuổi già ở đây buồn cô quạnh. Niềm vui là xem TV và hay lái xe dạo chơi ngắm thiên hạ giàu sang và trời mây phong cảnh ngoạn mục. Nếu mù không thấy gì nữa, thì kể như chết rồi, cuộc sống chỉ là đau khổ trong tăm tối mà thôi. 
* 
Trưa chúa nhật hôm sau, nơi nhà người con trưởng có party sinh nhật cho đứa cháu. Nằm nhà một mình buồn, Tuấn cũng mò đến tham dự để khuây khỏa. Sẵn gặp người con thứ làm MD cũng đến đó. Nghĩ những người trong cùng một nghề, thường biết chuyên môn tài giỏi của nhau hơn, Tuấn đem trường hợp mắt mình ra kể và hỏi: "Con làm cho mấy bịnh viện lớn đã lâu, con có biết bác sĩ chuyên khoa nào giỏi về bịnh nầy, chỉ cho bố đến chữa trị". Tuấn liền được đáp: " Mắt bố đã tốt năm mươi năm rồi, mà còn đòi gì nữa chứ." 
Tuấn nghe, tiu nghỉu, thẹn thùng cảm thấy mình có phần nài nĩ tham đời, nên thôi không nói gì thêm nữa. Sự cách ngăn thế hệ (generation gap) và xáo trộn văn hóa (cultural turbulence) đã làm cho người ta không hiểu nhau hoặc thông cảm để giúp nhau. Học thuyết Dương Chu từ Trung Hoa xưa và chủ nghĩa cá nhân vật chất nay ở Hoa Kỳ được kết hợp rất chặt chẽ nơi giới trẻ thịnh thời và đắc địa. Đúng ra mắt Tuấn đã tốt cả sáu mươi năm rồi, bỗng nhiên thình lình mới bị mù, nhưng mấy ai không tham đời, còn sống thì người ta vẫn còn cố tránh bị tật nguyền. Tuấn buồn nhiều hơn, thấy đen tối hơn. Không biết nói gì thêm, Tuấn yên lặng cho đến lúc ai về nhà nấy. Chi tiết nầy được kể như một nét nhỏ mà cũng có thể là đề tài lớn viết về nước Mỹ.
* 
Sang sớm thứ hai, theo giấy giới thiệu, Tuấn đến phòng nhãn khoa tư có bảng hiệu OC RG ở Santa Ana, bệnh nhân chờ khá đông. Nơi đây có ba bác sĩ gồm hai bác sĩ Mỹ trắng đã đứng tuổi và một bác sĩ người Hoa họ Chen mới ra trường chưa bao lâu. Nơi phòng đợi, các bằng cấp, ghi nơi và thời gian huấn luyện của mỗi bác sĩ đều có treo trên tường. Những bác sĩ này đều có bằng chuyên chữa bịnh võng mô (retina) . Thật ra từ nhỏ đến giờ đã hơn 60 tuổi, lần đầu tiên Tuấn mới nghe biết về bịnh mù mắt thình lình nầy.  
Lúc nhỏ, ở tỉnh quê, đã ba bốn lần Tuấn bị bệnh mắt đỏ, hai mí mắt sưng húp bị ghèn mủ khô làm dính cứng vào nhau. Sáng dậy, phải dùng bông gòn thấm nước muối hồi lâu cho ghèn mũ tan rã mới mở mắt được. Bệnh có khi kéo dài cả tháng mới khỏi. Đến hơn 20 tuổi, nhìn xa không rõ, Tuấn mới đến optometrist đo độ và đeo kính. 
Tuấn cũng đã thấy người ta bị bệnh mắt hột, bên trong mí mắt có những mụt trắng và mí mắt sưng. Có người bị thủy tinh thể của mắt dần dần trắng đục, khiến mắt dần dần không trông rõ, nhưng vẫn còn thấy ánh sáng và nhìn cảnh vật lờ mờ. Có người bị cận thị, bị viễn thị có thể chữa bằng cách mang kiến cận hay viễn (trường hợp mắt người già). Có người mắt bị kéo mây phía trước thành mù lòa. Có người mắt bị lớn lồi ra. Nhưng trường hợp mắt của Tuấn, người ta nhìn vào vẫn thấy tốt đẹp bình thường không sao cả, nhưng lại mất ánh sáng. 
Mắt phải mất ánh sáng xảy ra thình lình và nhanh chóng như vậy như vậy là do Võng Mô (retina), mạng lưới thần kinh tỏa ra trong đáy mắt nối liền với thần kinh thị giác trong hốc mắt tiếp liền với trung khu thị giác trong não bộ bị tổn thương. Võng mô tiếp nhận ánh sáng, hình ảnh và màu sắc truyền vào não khiến ta thấy được. Võng mô bị tróc ra hay thương tổn cũng như miếng film trong máy chụp hình bị hư hỏng hay sút ra, dù máy ảnh, ống kính còn tốt cũng không thâu được hình. Từ trước không nghe ai nói tới bịnh mắt nầy. 
Bác sĩ trẻ, họ Chen được sắp xếp chữa trị cho Tuấn. Chen khám lại và giải thích từ trước đã có phương pháp giải phẩu để gắn lại võng mô bên trong mắt (Vitrectomy and Scleral Buckling). Gần đây có phương pháp mới, giản dị hơn đã đuợc áp dụng. Nếu theo phương pháp mới sẽ tránh được việc mổ mắt, vừa đỡ thương tổn, đỡ tốn kém, mà cũng có kết quả tốt. Đó là phương pháp bơm hơi thuốc vào bên trong mắt và dùng kim đông lạnh để gắn lại võng mô (Pneumatic Retinopexy and Retinal Cryotherapy). Nghe phương pháp mới nầy cũng kết quả tốt, Tuấn yêu cầu Bác sĩ Chen áp dụng cho mình. 
Tuấn được đặt ngồi trên ghế bên cạnh ghế bác sĩ, một bên là một ống gang như ống acetylen của thợ hàn, nối liền với một vòi kim bơm hơi và một bàn đạp điều khiển cho lượng hơi ra vào nhiều ít. Tuấn ngồi ngửa mặt, mở rộng mắt. Bác sĩ cầm kim đâm vào mắt, bơm hơi thuốc vào, và xả ra nhiều lần, khoảng vài chục phút. Tuấn nghe tiếng hơi bơm vào, rút ra leo pheo, như ngươi ta bơm và xả hơi bong bóng. Đau không thể nói được, nhưng phải cắn răng, hít hà, ráng chịu để may ra thị giác được vãn hồi. Bác sĩ làm xong băng kín mắt phải lại. Tuấn ra về. 
* 
Hai hôm sau theo hẹn trở lại, mắt phải được mở ra, Tuấn thấy lại ánh sáng lờ mờ và nhìn vật thấy 2 hình, một hình mờ và một hình rõ, và thấy một bong bóng hơi hình thuẩn trong mắt lao chao ở mí dưới. 
Bác sĩ Chen cũng bơm hơi như vậy một lần nữa. Đau lắm, Tuấn vẫn rán chịu. 
Ba ngày sau khám lại, đo áp suất mắt, mắt phải đã thấy ánh sáng tốt hơn và đọc được những chữ lờ mờ ở cuối miếng card. Bác sĩ bảo đã tốt rồi và chuyển qua một phòng khác có trang bị một máy có một đầu kim nhỏ như mỏ hàn nối liền vói bộ phận chứa và truyền độ lạnh (có thể là nitrogen lỏng, Tuấn chắc là vậy). 
Đây là lần thứ ba Tuấn không thấy bác sĩ chích thuốc tê mê, và Tuấn cũng ngại hỏi tại sao. Có thể bác sĩ có lý do, hay vì đã quên. Tuấn cứ phó thác cho bác sĩ Chen, và ráng chịu đựng. Tuấn vẫn ngồi trên ghế ngửa mặt và bác sĩ ngồi bên. Chen không có phụ tá nào cả. Ông dùng kim lạnh xăm vào bên trong vào tận đáy mắt không biết bao nhiêu phát xăm, như người ta chậm rãi xăm củ gừng làm mứt. Thao tác nầy cũng tương tự như người ta xăm để gắn một miếng vải mui xe bị rời xuống cho dính trở lại vào mui. Tuấn đau lắm, không thể kể được vì thần kinh mắt cảm ứng mạnh và ngay sát vào não. Tuấn nghĩ ngày xưa người ta đã quá khen Quan Vân Trường can đảm giỏi chịu đau, ngồi điềm nhiên đánh cờ để cho Hoa Đà mổ vết thương mũi tên trên cánh tay. Cái đau đó so với cái đau trong mắt Tuấn lúc châm kim nầy thì chẳng đáng chút gì. Tuấn cắn răng chịu dựng, hai lần bơm hơi trước đã làm cho Tuấn chịu đau hơi quen rồi. Nhưng lần nầy đau gấp trăm lần hơn, Tuấn nghiến rắng giữ yên cho bác sĩ làm việc và nhớ đến câu Seul le silent est grand (chỉ có yên lặng là lớn lao mà thôi), tuy rằng có những co rút, nẩy, uốn cả thân thể theo phản xạ tự nhiên không kiểm soát được. Khoảng chừng 40 phút thì việc ép bằng kim lạnh (Cryotherapy) đã xong. Tuấn ra về. 
* 
Một tuần sau tái khám, bác sĩ bảo là tốt rồi, khỏi châm nữa, và giới thiệu trở lại bác sĩ nhãn khoa gốc ở Bolsa săn sóc tiếp. Vài tuần sau, Tuấn trở lại bác sĩ ở Bolsa khám lại, cho như vậy là được rồi và không cần thuốc men gì cả. 
Lban đầu Tuấn thấy trong mắt có một bong bóng hơi chiếm 1/3 thị trường mắt phải nơi miù dưới, thật ra bong bong hơi nằm ở phía mí trên, nhưng mắt cũng như máy hình thâu hình ảnh ngược. Bong bóng nầy ngày càng nhỏ dần và hơn tháng sau thì biến mất. Mắt Tuấn nhìn thấy hình mọi hình thể đều méo mó và thấy những vệt đen lảng vảng trước mắt, nhìn người nào cũng thấy xấu xí như ma. Nhìn TV thấy hai màn hình méo mó cách nhau. Sau vài năm khi mắt trở lại bình thường, Tuấn đổi kính cận. 
Sau sáu năm, mắt phải Tuấn đã phục hồi lại được khoảng 70%, vì dù sao cũng thấy mờ hơn mắt trái. Thỉnh thoảng khi nào làm việc gì hơi nặng nề, thấy mắt hơi bị căng căng, Tuấn liền ngưng lại và đưa tay che một mắt để xem mắt kia còn thấy được không. 
Đến nay 6 năm đã qua, nếu che mắt phải, nhìn bằng mắt trái không thôi, Tuấn thấy sáng rõ nhất. Nếu đổi lại, nhìn với mắt phải, Tuấn thấy hình ảnh lu mờ hơn nhưng vẫn có thể còn thấy đường lái xe trong lúc ban ngày. Nếu nhìn bằng cả hai mắt, thì thấy hình ảnh rõ trung bình giữa hai lối trên vừa kể, cỡ khoảng 80%. Nếu nhìn vào TV lâu cũng có thể nhìn thấy 2 màn hình, một rõ và một mờ nhưng hình ảnh không còn méo mó và đường nét không còn dợn sóng như trước. 
* 
Tuấn có hỏi bác sĩ Chen nguyên nhân vì sao võng mô bị tách ra như vậy. Ông không nói rõ nguyên nhân vì sao, nhưng theo tỷ lệ cứ khoảng 10,000 người thì có một người bị như vậy. Nên phòng mạch nhãn khoa chuyên về retina nầy có công việc làm đều đều. Bác sĩ Chen khuyên Tuấn không nên làm việc gì quá nặng. Rất may là Tuấn mới bị vài hôm vàø được chữa trị kịp thời. Nếu để lâu hơn, võng mô đã rách có thể sẽ thoái hóa, không biết có thể chữa lành và phục hồi ánh sáng không. 
Vì bệnh nầy xảy ra lần đầu tiên và đột ngột, Tuấn chưa từng nghe biết, nên tò mò tìm hiểu và được biết có người thình lình đang đi đường bỗng bị hai mắt một lúc. Quá rán sức, hay bị tai nạn, đầu bị va chạm mạnh, hay bị đấm mạnh vào mặt cũng có thể bị. Khi xưa cụ Nguyễn Đình Chiểu, đang trên đường đi thi, giữa đường hay tin mẹ mất, cụ bỏ cuộc trở về, thương mẹ, khóc đến mù mắt. Có thể thần kinh bị quá kích động làm thương hại võng mô nên mù chăng" Từ đó Tuấn thường kiểm nghiệm rằng khi làm việc gì nặng thì thấy hơi nhức mắt và thường hay kiểm soát lại mắt mình bằng cách che một mắt và nhìn bằng mắt kia. Khi người ta bị mù một mắt, mắt kia vẫn còn thấy, nên rất dễ không biết để kịp thời chữa trị. 
* 
Nhờ kỹ thuật và y khoa tân tiến của nước Mỹ, mắt phải củaTuấn đã bị mù tối, được thấy lại ánh sáng. Bệnh thình lình đui mắt nầy ít khi xảy ra, nên phần đông chúng ta không biết đến, nhưng biết đâu cũng có thể bất chợt xảy đến cho bất cứ ai. Có bệnh còn dễ hơn trúng số. Vậy chuyện nầy được kể như một kinh nghiệm hoặc thông tin. Thiển nghĩ, nên tôi viết bài nầy cho chúng ta cùng biết qua, cũng là chuyện nước Mỹ, và thay ông Tuấn ghi ơn y khoa Mỹ. 
HỒ PHI

(Từ Cảnh chuyển )
SPONSORED LINKS
.


__,_._,___

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...