Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Sao anh không về thăm Trà Võ. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Sao anh không về thăm Trà Võ. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2019

Sao anh không về thăm Trà Võ - Thơ Thuyên Huy


Sao anh không về thăm Trà Võ
Nhớ một nơi cứ nhớ mà chưa về và chắc cũng không về

Sao anh không về thăm Trà Võ
Cao su rừng thay lá lâu rồi
Bến Đình chuông chùa chiều vẫn đổ
Sông Vàm cứ sáng lớn chiều vơi

Cây điệp già lẻ loi trước chợ
Khẳng khiu cứ mưa nắng hai mùa
Người vẫn đông chợ phiên ngày cũ
Sân trường làng cũng tiếng trống xưa

Dân lầm lũi đời phu cạo mủ
Gốc cây già gầy guộc trốn mưa
Leo lét ngọn đèn dầu cuối phố
Gió hững hờ lùa liếp cửa thưa

Ngày anh đi không người đưa tiễn
Trà Võ buồn giấu lệ tiễn đưa
Nhớ ai như sông về với biển
Cao su rừng ngủ muộn dưới mưa

Anh đi rồi Trà Võ vẫn vậy
Mưa Bông Trang nhớ nắng Bến Mương
Mực mồng tơi tím như ngày ấy
Chờ người về viết trọn chữ thương

Thuyên Huy
Ballarat giữa thu 2018





MỜI XEM :

Cẫm Giang Một Sớm Thu Về - Thơ Thuyên Huy



Thứ Hai, 4 tháng 1, 2021

ANH HOÁN - Truyên Ngắn Của Lữ Quỳnh (Văn Việt )

 

Truyện Lữ Quỳnh

Khi xe vượt qua trạm gác của quân cảnh để vào bến, tôi thò tay vào túi áo lấy sổ tay ra xem một lần nữa địa chỉ anh Hoán. Con số và tên đường đã nằm sẵn trong trí tôi, nhưng tôi vẫn không ngăn được thói quen máy móc của mình. Chiếc xe lắc lư tiến chậm rãi vào chỗ đậu giữa đám bụi mù hăng hăng mùi đất. Tôi đợi cho đám hành khách ngồi trước mình xuống hết, rồi mới thong thả cầm xắc tay xuống sau. Tôi gạt đám tài xế xe thồ, xe lam, xích lô đang chen khách, tiến tới một quán cóc gần đó. Tôi cần có ít phút để xếp đặt thời khắc biểu cho mình trong thời gian ngắn ngủi ở đây, dù cho chuyến đi này chẳng có gì quan trọng cả. Việc trước tiên có lẽ tôi sẽ tới thăm anh Hoán, sau đó sẽ tới ở lại chơi với Thung.

Tôi gọi một ly cà phê đá, lấy một gói thuốc, và hỏi vẩn vơ cô hàng về con đường mà tôi sắp tới. Cô hàng nói, con đường đó nhà rất ít nên ông rất dễ tìm. Tôi mỉm cười hình dung ra căn nhà của anh Hoán, tự hỏi không biết bây giờ những người ở đó còn ai nhận ra mình nữa không.

Nắng buổi chiều đậu trên những ngọn cây đầy bụi cho tôi một cảm giác hết sức khó chịu. Cảnh vật đó với thứ khí hậu oi ả không hợp với tôi chút nào, rồi nghĩ tháng này ở đây lẽ ra phải đang lạnh chứ. Tôi đứng dậy chào cô hàng, và theo ngón tay chỉ của cô, tôi tà tà đi tới nhà anh Hoán. Đường phố gập ghềnh những ổ gà, bụi và rác bám trên lề đường. Tôi nghĩ chút nữa sẽ đùa với anh Hoán về cái tỉnh của anh.

Tôi quan sát những ngôi nhà xinh xắn có cổng bằng gạch đỏ. Tôi đoán ra ngôi nhà anh một cách dễ dàng. Tôi tiến tới, ngừng lại nói với người lính gác mấy câu cần thiết, nhưng vì tôi là người khách hoàn toàn xa lạ với y, nên y phải gọi điện thoại vào nhà xin xác nhận, rồi mới lễ phép để tôi vào.

Tôi bước giữa hai đám cỏ xanh được cắt xén cẩn thận. Ngôi nhà với tường vôi màu vàng thẫm trông thật uy nghiêm. Những cánh cửa sổ màu nâu với rèm vải màu gạch. Tôi mỉm cười nghĩ đến anh Hoán thuở tôi còn nhỏ và anh mới ở trường Võ Bị ra được vài năm. Hồi đó anh đâu có nghĩ có một ngày anh làm lớn thế này. Tính tình thẳng thắn, hồn nhiên, nghịch ngợm của anh đâu phải là những tính cách của một người làm chính trị.

Tôi không bước vào cửa chính mà tiến vòng cửa sau, một thiếu nữ tôi đoán chừng là đứa con lớn của anh Hoán đang đứng ở cửa chào tôi và đưa tôi vào phòng khách. Tôi ngắm thiếu nữ đi nhẹ nhàng trước mình, không tránh nghĩ đến thời gian được. Thời gian là mầm sống, nhưng cũng là sự chết của con người. Đứa bé ngày nào trong một thời gian không gặp, đang là một thiếu nữ trước mặt.

Tôi đứng giữa phòng khách, chỉ tay vào thiếu nữ, hỏi tự nhiên:

- Có phải Nữ đấy không?

Thiếu nữ dạ nhỏ, tay cuốn tròn những sợi tóc trước ngực.

- Mời chú ngồi đợi ba cháu. Cháu đã điện thoại và có lẽ ba cháu cũng sắp về. Xin phép chú cháu đi lấy nước.

Thiếu nữ vào nhà sau. Còn một mình, tôi ngả người ra lưng ghế, nhìn lên những bức tranh và đồ trang trí chung quanh. Một chiếc đàn Tây Ban cầm treo khiêm nhường ở góc tường, gợi tôi nhớ đến những buổi chiều bên dòng sông Bồ, anh Hoán đã chơi đàn như người ta đánh trống. Những bản nhạc hùng tráng được anh ưa thích nhất. Không biết bây giờ anh có thì giờ và còn tâm hồn ngày xưa để chơi những bản nhạc như thế nữa không…

Thiếu nữ trở vào, đặt trước mặt tôi một ly nước cam vắt.

- Cám ơn Nữ, tôi nói và đưa tay chỉ lên cây đàn, anh Hoán có còn thường chơi đàn nữa không?

- Thưa chú, thỉnh thoảng thôi ạ. Ba cháu cứ bận rộn suốt ngày. Thỉnh thoảng ba cháu vẫn nhắc đến chú…

Tôi cười, chỉ ghế phía trước cho thiếu nữ:

- Nữ ngồi tự nhiên đi. Lần gặp trước Nữ bằng chừng này, tôi đưa tay ra dấu ngang tầm tay ghế dựa, lần gặp tiếp theo Nữ như vậy đó.

Thời gian kể cũng đáng khiếp thật!

- Cháu cũng nghe ba cháu nói về chú, nhất là lúc ba cháu còn ở ngoài mình. Ba cháu thường băn khoăn không biết chú đi đâu mà tuyệt tích giang hồ. Tí nữa gặp chú, chắc ba cháu ngạc nhiên và mừng lắm.

Có tiếng xe đỗ ngoài cửa. Tôi đoán biết anh Hoán đã về. Nữ đứng dậy reo lên:

- Ba cháu đã về rồi đấy!

Tôi cũng đứng dậy bước ra với Nữ. Anh Hoán mập trắng, già hẳn đi. Anh nhìn tôi một lúc mới ồ lên:

- À, chú Phan. Chú từ góc trời nào hiện tới thế? Bao nhiêu năm rồi nhỉ? Mười năm? Ồ mười năm. Chú tệ thật.

Tôi nói:

- Tôi đâu có tệ, anh. Tôi vẫn biết về anh mà.

- Làm sao chú biết được?

- Qua báo chí.

- Qua báo chí? Nếu chú biết theo kiểu đó thì coi như chú không biết gì về tôi cả…

Tôi biết anh Hoán hiểu lầm ý tôi, nhưng tôi chẳng nói gì. Anh bảo tôi thay đồ, ra phòng khách ngồi chơi đợi anh trong ít phút. Sực thấy Nữ đang đứng bên cạnh, anh hỏi:

- Lúc mới vào nhà, chú có nhận ra ngay cháu Nữ không?

- Cũng ngờ ngợ anh ạ, tôi nói, mới ngày nào còn vòi vĩnh làm nũng với chị đó, mà bây giờ…

Tôi trở vào phòng khách ngồi cởi giày. Anh Hoán bước vào theo, mở những nút áo lính một cách tự nhiên.

- Tối nay tôi có buổi họp, tuy nhiên có thể tới trễ được. Chú định ở lại chơi với tôi bao lâu?

Tôi nói:

- Xin anh chớ bận tâm. Tôi đến thăm anh một lúc rồi đi. Có người bạn cũng ở tỉnh này, tôi muốn gặp hắn.

- Tôi trông chú chẳng khác gì xưa cả. Cũng cái tính hờ hững ấy.

Tôi cười. Một lúc, tôi hỏi thăm anh về chị Hoán và mấy đứa nhỏ sau này. Anh cho biết, chị và chúng nó vừa ra ngoài mình thăm.

Giọng địa phương của anh làm tôi cảm thấy thân mật lạ lùng.

- Bây giờ chú kể cho tôi nghe chú đi đâu mà biệt tăm biệt tích như thế? Lâu rồi tôi có hỏi thăm chú, và cũng chỉ biết đại khái thôi.

- Tôi cũng quanh quẩn đó đây thôi anh ạ. Giữa thời buổi này không cần thấy, anh cũng biết quá rồi cái sinh hoạt của tụi tôi.

Anh Hoán cười. Anh cười như anh đã sẵn sàng nghe cái câu nói đó từ khuya. Anh làm như anh thông hiểu hết những ẩn ức của tuổi trẻ, nhưng vì ẩn ức đó không đi tới đâu, nên anh có hiểu cũng vậy thôi. Tôi không hài lòng thái độ đó. Tôi nói:

- Sống là thường xuyên giải quyết những vấn đề lúc nào cũng sẵn sàng có đó. Những vấn đề của tôi không rõ ràng. Vì dòng sống của tôi cùng quẫn, nhưng không phải vì thế mà chúng ta xem như không có vấn đề nào cả.

Anh Hoán vẫn cười điềm nhiên. Anh gọi người lính dọn cơm, bảo Nữ lấy rượu, rồi quay qua tôi:

- Chú cùng quẫn, chú khổ là do chú. Chú đã chọn những vấn đề phức tạp cho mình. Phải phân biệt những điều mình nghĩ và những điều mình làm. Tôi biết chú đang đòi hỏi gì. Trước một sự bi thảm, đói khát, khốn khổ, ai chẳng biết một cuộc vận động để chấm dứt những cái đó là hợp lý. Trong tình cảnh đó, tôi nghĩ như chú. Nhưng tôi chưa làm gì được, trong khi chú đã làm rồi chứ gì? Chú lên tiếng, chú vận động, nhưng sự vận động đó của chú sẽ đi tới đâu, có làm những người khác có cơm ăn không? Phải thực tế chú ạ…

- Anh mỉa mai tôi có phải không? Dĩ nhiên là tôi không thể đem cơm áo lại cho ai được. Nhưng không lẽ mọi người đều cam phận, chịu đựng hoàn cảnh khắc nghiệt của mình?

Anh Hoán cười. Tôi tưởng như tôi không thể nào làm anh giận được cả. Sự điềm tĩnh của anh Hoán, trong một phút giây nào đó đã làm tôi cảm thấy lao đao. Tôi nghi ngờ về sự chín chắn của mình, về những điều mình từng nghĩ ngợi. Anh Hoán đứng dậy, mời tôi ra phòng ăn.

Chiếc bàn trải khăn trắng với những chiếc ly thủy tinh trông thật ngon mắt. Bữa ăn chỉ gồm có tôi, anh Hoán và Nữ. Tôi ngồi vào ghế, nói với anh Hoán:

- Tôi vẫn nhớ đến sông Bồ mỗi lần nghĩ tới anh. Dòng sông quá đẹp. Vào mùa nắng, anh còn nhớ anh thường đỡ tôi ra cái cồn cát giữa dòng. Những bóng cây hai bên bờ thật mát, lại gặp mùa thanh trà… Sau này anh có hay về lại đó không?

- Rất ít, anh Hoán nói, cách đây vài năm tôi có nhìn con sông đó từ trực thăng. Cồn cát đã lớn và dài ra, trong khi dòng sông như hẹp lại. Cây cối hai bên bờ cháy nám. Những trái thanh trà chưa có dịp để ăn, nhưng tôi đã thấy đắng chát từ đáy cổ.

Tôi nghe nỗi ngậm ngùi trong giọng nói của anh Hoán. Tôi nhìn anh, khuôn mặt đầy ưu tư nghiêm nghị. Anh rót rượu chát vào ly tôi, trong khi Nữ loay hoay chọn những viên đá nhỏ cho vào ly còn lại.

- Khi nãy chú bảo chú biết tin tức tôi qua báo chí, tôi biết chú đã nghĩ không đúng về tôi. Phải ở vào vị trí của mỗi người, mới thấy cái sai lầm hợp lý, hoặc cái thành công gượng ép của họ.

Tôi cải chính:

- Anh lại hiểu sai ý tôi. Chính nhờ báo chí mà tôi biết anh dự trận Hạ Lào, rồi sau đó về nhận bàn giao ở tỉnh này. Còn những tin tức khác, anh cứ tin là tôi có thể hiểu như anh.

Anh Hoán xới cơm vào chén tôi. Anh nói:

- Thời buổi đầy rẫy sự hoài nghi. Chính cuộc sống này đã tạo sự cô đơn cho mỗi người. Không làm được gì hết. Sống, dè dặt. Làm việc, cầm chừng. Đừng xấu quá, và đừng tốt quá. Hễ quá tức là đổ. Chú hiểu ý tôi chứ?

Tôi mỉm cười, nhưng trí óc tôi đang bận nghĩ tới một chuyện khác. Tôi nhớ những điều buồn thảm trong một lá thư của người bạn vừa gửi cho tôi. Cảnh đói kém và đời sống cùng khổ đã xuất hiện từ lâu nay. Tôi nghĩ tới hoàn cảnh của Thung, hai năm trốn lính, thân thể mỏng dính như một tấm giấy, đang hiện diện trong căn nhà gỗ nào đó của thành phố này. Tôi nói:

- Những ngày còn nhỏ sống bên anh thật tuyệt. Nghe anh nhắc đến sông Bồ vừa rồi, chắc tôi không bao giờ còn có ý định về lại đó nữa. Dòng sông như tuổi trẻ. Tuổi trẻ của tôi có dòng sông là kỷ niệm cũng không còn. Anh có bao giờ đặt câu hỏi ai đã lấy mất tuổi trẻ của thế hệ tôi, ai biến dòng sông xưa thành đồng cỏ cháy? Thủ phạm quá mơ hồ phải không anh?

Anh Hoán cười, lại châm rượu vào ly. Tôi tự hỏi, tại sao anh cười, anh tự tại đến thế. Tôi cầm ly rượu bằng cả bàn tay. Tôi uống một hơi cạn. Nữ đứng dậy bật đèn. Tôi nhìn ra cửa sổ, bóng chiều đã phai nhạt trên những ngọn cây. Bóng Nữ gầy, xinh xắn, tươi mát như một trái cây vừa chín. Tôi nhớ câu nói đùa hơn mười năm trước của anh Hoán, lúc Nữ mới được năm sáu tuổi: Mày đừng lấy vợ sớm nhé, chờ ta gả con Nữ cho. Bây giờ Nữ như thế đó, hẳn cũng đã mười sáu mười bảy tuổi. Giá lúc này nhắc lại câu nói đùa đó, không biết anh Hoán có cười nổi không.

Nhìn những sợi tóc bạc lưa thưa, cùng những đường nhăn tuy nhỏ nhưng không giấu được nỗi ưu tư trên khuôn mặt anh, tôi hiểu tôi đã sai lầm khi khai mào câu chuyện. Lẽ ra tôi phải nói với anh về những chuyện khác. Mười năm xa nhau, thời gian quá đủ để có những câu chuyện tươi vui hơn, cớ sao tôi lại dẫn đưa câu chuyện vào cảnh buồn nản này.

Anh Hoán bảo tôi dùng thêm cơm, nhưng tôi cảm thấy đủ. Tôi nói:

- Cám ơn anh. Anh đã cho ăn một bữa cơm thật ngon.

Nữ mang trái cây tráng miệng.

- Sao Nữ không theo mẹ về thăm quê luôn? Tôi hỏi.

Nữ đặt những miếng cam trước tôi và anh Hoán:

- Ba cháu không cho theo đấy. Cháu cũng muốn về ngoài đó lắm, vì cháu chẳng còn nhớ chi hết.

Tôi quay qua anh Hoán.

- Anh vẫn thường nhận tin tức ngoài quê chứ? Tôi nghe ngoài đó dân chúng sống cơ cực lắm. Nhiều gia đình đã phải nấu cây xương rồng để ăn, một vài nơi chính quyền nghĩ tới nấu cháo phát chẩn cho dân chúng rồi đó.

Anh Hoán nói:

- Người ta bi thảm hóa lên đấy. Tôi nghĩ sau cuộc chiến tranh nào cũng xảy ra tình trạng như thế cả. Nền kinh tế hậu chiến nào cũng vậy cả. Rồi chú còn thấy cuộc sống đen hơn, có thể đi tới chỗ như chú vừa nói, chứ bây giờ cũng chưa đến nỗi nào.

Anh Hoán không tin điều tôi nói, nhưng điều tôi đã nói là sự thật.

- Tôi không biết ở địa vị anh, anh nghĩ gì trước hoàn cảnh đó?

Anh Hoán nhún vai:

- Nghĩ? Ý nghĩ thì bao giờ mà tôi chẳng giống chú. Nó khác cảm xúc, sự thất vọng, tôi nghĩ, giữa mọi người không khác nhau mấy trong cùng một hoàn cảnh. Nhưng ý chú muốn nói tôi ở vai trò có thể hành động được chứ gì? Chú mong hành động gì ở tôi? Tôi là tôi, nhưng tôi của một guồng máy nó khác chứ. Việc làm của tôi bị giới hạn. Tôi có thể giúp đỡ tạm thời chứ tôi làm sao tạo dựng lại tất cả cuộc đời được.

- Anh bất lực?

- Tôi không nghĩ thế. Trong phạm vi hoạt động của tôi, tôi làm đủ. Ngoài ra, dù ước muốn thế nào chúng ta cũng không thể thắng được cái quy luật tự nhiên sẵn có của nó. Khi còn chiến tranh, ước muốn và công lý đâu làm cho cuộc chiến ngừng lại. Thì bây giờ, dù cho hòa bình thật sự có chăng nữa, những nỗ lực nhân đạo cũng không thể chận đứng được nạn nghèo đói. Tiếp theo một cuộc chiến tranh, những gì phải xảy đến thật quá dễ dàng để biết…

Nghe anh Hoán nói, tôi quá thất vọng. Ở vị trí anh, anh đã nghĩ như thế, tất cả phải xảy ra một cách máy móc như thế. Anh Hoán đã coi thảm cảnh đó như những điều tất yếu của lịch sử, và anh đã sống được trong sự bình yên. Tôi thường ray rứt, để rồi cảm thấy bế tắc. Những người dân tiếp tục sống cam phận trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Tất cả đều cam phận, tự thấy mình đứng ngoài lề cuộc đời của nhau. Tôi nhận thấy không còn gì để nói với anh Hoán nữa cả.

Nữ pha cho tôi một tách cà phê và anh Hoán một tách trà chanh nóng. Anh bưng tách lên, đứng dậy rủ tôi trở lại phòng khách. Anh nói:

- Chú phải ở lại với tôi vài hôm. Tôi chưa hỏi thăm chú hết chuyện mà.

Tôi nghĩ đến Thung, với những tháng ngày cùng quẫn của hắn. Hắn cũng như tôi, những kẻ đã bị thiệt thòi trong chiến tranh, và còn tiếp tục chịu thiệt thòi trong hòa bình nữa. Chiến tranh đã làm giảm thọ chúng tôi gần hết cả cuộc đời. Tôi nói:

- Cám ơn anh lắm, nhưng tôi phải xin phép anh đi. Tôi cần thăm một người bạn ở đây. Cũng khá lâu rồi chúng tôi không gặp nhau.

- Có ở gần đây không? Tôi sẽ đưa chú tới đó.

- Thôi khỏi cần anh ạ. Địa chỉ của hắn cũng rắc rối lắm, tôi sẽ tự tìm lấy, như thế vui hơn.

Anh Hoán cười. Tôi uống những ngụm cà phê cuối. Tôi gọi Nữ vào, nói với anh Hoán:

- Lúc tôi xa anh, Nữ còn bé xíu. Bây giờ gặp lại, cô bé như thế đó. Lần này từ giã anh, chắc lần gặp tới anh chị đã có cháu bồng.

Nữ cười nhìn xuống đất. Anh Hoán nói:

- Đâu có được. Bây giờ thì tôi đâu có chịu để chú xa chúng tôi lâu đến thế. Chú chẳng đổi khác gì cả. Tôi vui nhận ra điều ấy. Tôi đứng dậy quàng tay qua vai Nữ, và bắt tay anh Hoán.

- Thôi anh cho tôi đi, tôi sẽ tới với anh như gió.

Anh Hoán đứng dậy, lấy áo mặc vào người, nói:

- Để tôi đưa chú đi một quãng. Tôi cũng phải tới tỉnh họp bây giờ đây.

Chúng tôi ra xe. Dưới bóng tối của những tàng cây, anh Hoán lái xe chậm rãi, anh nói với tôi:

- Không ai sống mà không ý thức về đời sống của mình cả chú ạ. Nhưng vẫn không thiếu những lý do để người ta cam chịu ngộ nhận.

Giọng anh Hoán buồn buồn. Tôi hiểu những điều anh muốn nói ra. Chúng tôi đang sống như những hình múa rối. Tiếng nói không vọng tới nổi người gần ta nhất. Nhiệt tình không ấm đủ để kéo lòng nhau lại.

Anh Hoán dừng xe lại ở một ngã tư. Tôi nhảy xuống, đi bọc sang cửa xe bên kia, bắt tay anh một lần chót. Anh nhìn tôi, không nói gì. Tôi nhận ra thêm một lần nữa anh đã già. Những ngày vui cũ không còn nữa ở anh. Dòng sông Bồ đã cạn, đã biến thành đồng hoang rồi không chừng.

Tôi ngậm ngùi nhớ đến bài thơ với hình ảnh vừa bắt gặp. Bài thơ vốn buồn, lúc này nghe chừng như buồn hơn. Tôi nhìn bóng xe anh Hoán mất hút phía tòa hành chánh, trong khi bước chân tôi lang thang tìm nhà Thung. Không biết Thung còn ở đó cho tôi gặp?

***

Anh Hoán, nhân vật trong truyện ngắn này, sau tháng 4/1975, may mắn vượt thoát ra khỏi miền Nam và chỉ vài năm sau gia đình anh định cư ở Mỹ. Trong sinh hoạt cộng đồng của người tị nạn, sau này mang nhiều màu sắc phức tạp, các chính trị gia, sĩ quan miền Nam viết hồi ký, đăng đàn diễn thuyết, xuất hiện trên báo chí mỗi ngày. Thì, anh Hoán đã sống lặng lẽ ở một thành phố nhỏ thuộc tiểu bang California.

Mỗi cuối tuần, anh lái xe đến ngôi chùa chỉ cách nhà sáu dặm, đàm đạo với vị sư trụ trì về Phật pháp. Thỉnh thoảng hai người cũng bàn qua thế sự, nhưng không nặng nề thế tục, mà nhẹ nhàng siêu thoát, bởi họ đều thấu lẽ vô thường. Ngày vợ anh, chị Hoán qua đời, anh buồn phiền tưởng không thể vượt qua nỗi đau, nhưng rồi lòng cũng nhẹ tênh như mây trắng. Nữ, con gái anh ngoài ba mươi đã hai lần lấy chồng đang ở một tiểu bang lạnh giá, mỗi năm về thăm cha một lần không quá vài ngày.

Tháng ngày trống trải, thế nào mà anh Hoán không nhớ lại thời gian còn chức quyền, thời mà cái guồng máy quyền lực đã buộc anh hành động ngược lại với trái tim anh; thế nào mà anh không nhớ dòng sông tuổi thơ của mình, dòng sông Bồ mùa nước cạn….

Nhưng cớ sao, giờ đây anh lại nói với vị sư già, một mai khi anh chết, xin hãy hỏa thiêu và rải

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Trà Võ - Chuyện Kể Không Trọn Của Một Phần Ba Đời Người - Thuyên Huy




    Tôi sinh ra ở Thạnh Phước, Gò Dầu Hạ, ba tôi người Long Thuận, mẹ người Trâm Vàng, bỏ Bến Cầu, theo gia đình về Trà Võ từ lúc vừa lên ba bốn tuổi gì đó. Trà Võ là ấp chợ của xã Thạnh Đức, quận Hiếu Thiện, ba ấp khác, phía trên là Bông Trang, Bàu Nâu, phía dưới là Bến Mương, nhà dân cất nằm dọc theo tỉnh lộ đi Tây Ninh - Sài Gòn, cái gạch cái tranh, san sát nhau, cái lớn cái nhỏ, xen kẻ những con đường đất rộng độ hai chiếc xe bò xe trâu qua, làm thành mấy ngã ba nối với đường lộ, đi vào khu xóm trong, không xa chợ bao nhiêu là cái nhà máy xay lúa lớn, máy chạy liên tục từ sáng tới chiều, người ta, xe lam, xe kéo ồn ào vô ra. Chợ Trà Võ, một cái nhà lồng lớn, cất bằng gạch, nền xi-măng cao quá nửa người, nằm giữa hai dãy nhà tường, đầu chạy dài từ ngoài đường lộ.  Sau chợ, chính giữa hai bên phố là văn phòng xã cũ, trông giống như một cái đình làng, có chòi canh, lô cốt, hàng rào kẽm gai, nhưng sau đó, khi tôi lên tỉnh học vài năm, thì bỏ trống. Phía bên kia là rừng cao su của người Pháp, sâu hun hút, bắt đầu dọc theo đường vào tận Cầu Khởi, Khiêm Hanh, ở một khoảng đất rộng, cùng một bên đó, ngó qua chợ, là cái đồn lính khá lớn, cũng bao cát kẽm gai chằng chịt và trụ sở của ủy ban hành chánh mới xã Thạnh Đức.
    Tính từ tỉnh lộ vào, trước chợ là một miếng đất rộng, chính giữa có cây Điệp già nua, ít bông ít lá, thường có chợ phiên mỗi tháng, là ngày công nhân cạo mũ cao su lảnh lương, người buôn người bán đông đúc, tấp nập cả ngày, từ sớm tới xế chiều. Sau văn phòng xã cũ là trường tiểu học, xây bằng gạch nhưng cũng còn hai lớp mái tranh, tường đất, trường có hàng rào đầy bông Bụp đỏ thẩm bao quanh cái sân cát trắng mịn, với vài ba cây bồ đề, bốn năm cây cổ thụ . Bên trái, dãy phố gạch nhiều căn, từ đường lộ vào, ngừng lại tại miếng đất trống, cỏ hoang um tùm, nhà tôi, một căn nhà vách đất, mái lợp tranh, bắt đầu từ đó, nối chung vách với mấy căn khác tiếp theo sau, cũng là mái tranh vách đất, cho tới con đường đất rẽ xuống xóm dưới, chạy dọc bên hông hàng rào trường học. Đối diện, phía bên kia, dãy phố gạch cũng chạy dài từ ngoài đường vào, song song với bên này. Phân nửa dãy nhà gạch đó, tính từ ngoài đường, được xem là nhà của người nhà giàu, gọi là giàu vì, ở đó có đủ thứ tiệm buôn, nào là tiệm vải, tiệm tạp hóa lớn, bán đủ thứ đồ, có cả phân bón, nồi niêu, tiệm bán thuốc tây, tiệm bán sửa xe đạp, tiệm may và nhiều nữa, nối liền nhau một khoảng phố, nhứt là gia đình của anh em bác ba S, bác chín C, lúc tôi chưa vào trung học thì họ đã có xe hơi, hình như là cái xe cam-nhông “bơ - giô” nhỏ, cái xe du lịch “trắc- xông” đen và có cả đèn điện bằng máy phát riêng.
    Ba tôi, làm giám thị, coi một trong hai ba sở cao su của đồn điền Pháp, ông giám đốc người Pháp có nhà ở, và văn phòng cũng như nhân viên làm việc, tại một khu cư xá khang trang, rào sắt cao bao quanh, nằm bên bờ nhánh lớn rẽ ngang của con sông Vàm Cỏ Đông, cuối ngã ba Vên Vên không mấy xa. Ông giỏi tiếng Pháp, nhưng là người thất thời vận, có thời làm giám đốc đồn điền cao su ở Bà Rá, Xa Cam,Hớn Quản, nhưng mẹ tôi, bà không có học hành nhiều, tôi không thấy bà đọc sách báo hay viết lách gì cả, ngoại trừ ghi chép đôi ba con số tiền chợ tiền nhà. Tuy đươc gọi là “thầy tư giám thị” nhưng gia đình tôi nghèo, may mà ba tôi có được chiếc xe gắn máy hiệu “Goebel” của Đức, để đi làm, sáng sớm vào rừng, chiều về đi họp, chứ nếu không chắc là phải đi xe đạp như những chú thiếm, anh chị công nhân cạo mũ khác trong làng. Ông không có nhiều quần áo, hai ba cái áo sơ mi trắng ngã màu, mấy cái quần đùi, quần dài màu đậm, và còn được cái áo vết-tông màu xanh dương, kiểu xưa, treo ngày này qua ngày nọ, năm này qua năm kia, trong cái tủ lớn để giữa nhà, trên làm bàn thờ ông bà, bằng gõ nâu bóng, món đồ giá trị nhất trong nhà, phía dưới cái áo “tây” lủng lẳng này, là một chồng sách cao, nào là truyện Lê Văn Trương, Hồ Biểu Chánh, Nhất Linh, Khái Hưng, nào là truyện tàu, Thủy Hử, Tam Quốc Chí...tôi không biết ông có đọc hết hay không. Ông cũng có một đôi giày da đen, mốc meo, chưa bao giờ thấy bóng, cất trên đầu tủ thờ, ít khi thấy đem xuống. Đi làm, ông mang đôi giày da khác, cũ hơn và đã sờn nhiều chỗ, ở nhà, ông mang dép Nhật lẹp xẹp, dù trời lạnh đông hay nắng hạ. Mẹ tôi cũng không hơn gì ông, cũng mấy cái áo bà ba đen, mấy cái quần vải đen, dăm ba cái khăn rằn không cũ lắm, bà có thêm bộ đồ còn tốt, áo bà ba lụa tay dài màu nâu nhạt và cái quần lảnh đen láng, dành để mặc mỗi khi về Trâm Vàng thăm bà ngoại, giống như ba tôi, bà có vài đôi dép cũ, mang thay qua đổi lại, nhưng chưa khi nào thấy hai ông bà buồn chuyện gì cả, hay có buồn riêng mà tôi không biếtđược.
    Ba mẹ tôi không có nhiều bạn bè, hai người chưa thấy lần nào bước qua hay đi tới phía dãy nhà giàu bên kia chợ.  Cái tiệm tạp hóa nhỏ, trọn một căn phố, của chú T, người gốc Tàu, Tiều Châu thì phải, ở đầu dãy phố cùng bên nhà, có hai đứa con trai, đứa em tên N, học cùng tôi một lớp, hiền và ít nói, là nơi mẹ tôi tới mua mắm muối, dầu mè. Riêng tiệm thuốc tây, ba tôi có qua mua thuốc cảm vài lần, mẹ tôi thì chưa thấy lần nào, vã lại, nếu bệnh nặng, ông bà được công ty Pháp chỡ xuống bệnh viện St Paul dưới Sài Gòn, mỗi lần về Gò Dầu, ba tôi đều ghé tiệm thuốc tây của một người bạn quen, ngay ngã ba xuống chợ, ngó qua bên văn phòng hành chánh Quận mua hờ cả một túi đầy, cảm cúm ho hen đủ thứ, theo ông nói lại, người bạn lấy tiền tượng trưng vì ơn nghĩa với ông, từ ngày bôn ba xuôi ngược miền Tây sông nước, vợ bác này, đã chết vì bệnh ung thư ngực năm tôi lên lớp đệ ngũ trung học.
    Cả những năm dài còn ở trường làng, cho tới ngày lên trung học trường tỉnh, hình như ba mẹ tôi chưa có lần nào đến cửa nhà mấy gia đình bên đó và ngược lại ở bên đó, họ cũng chẳng cần phải đến nhà tôi. Khách của nhà tôi thường là mấy người bà con bên ngoại dưới Gò Dầu lên, thăm khi có chuyện gì cần hay anh chị năm T, con của bà cô hai, người trông chừng cái vườn cau và dừa, do ông bà nội để lại, từ bên Bến Cầu qua trong mấy ngày Tết. Chỉ có vậy thôi, tuy nhiên ba tôi cũng có dăm ba người bạn già quen, ở xóm dưới, sớm nào, mặt trời chưa mọc, đã có mặt ngồi nhâm nhi cà phê ở trước căn tiệm, ngó ra cái giếng bơm nước, vẫn còn xài được, ngay góc cuối của nhà lồng chợ, hay ngồi đánh cờ tướng, thế xe thế pháo, trên dãy sạp cây trống , giữa trưa nắng, khi bạn hàng buôn bán không còn ai. Còn lại, người được xem tới thường thường là mấy anh chị hay cô chú, dân làm phu cạo mủ của sở ba tôi coi, khi thì đem cho con gà, con cá, trái bí trái bầu, khi thì nhờ ba tôi viết đơn này đơn nọ để gởi cho xã quận hay ai ai đó.
    Tuy nhà tranh đèn dầu, khi mờ khi tỏ, nhưng ba tôi đã dạy tôi, đánh vần viết chữ từ khi chưa tới tuổi đi học, cho nên, khi vào trường, tôi đã được xếp lớp tư thay vì lớp năm là lớp đầu tiên như những đứa trẻ khác và tôi bắt đầu học chung lớp với đám con cái nhà giàu, TTU, TDK,TDK và gặp mặt mấy người em của họ, TVT, TDK, TTB ... những đứa học lớp dưới kể từ lúc bấy giờ, cho tới ngày lên trường công lập tỉnh, những người này thì lại xuống học ở trường quận Gò Dầu Hạ. Suốt bốn năm tiểu học, tôi ít khi chuyện trò hay chơi đùa với nhóm này, họ cũng chẳng thấy cần gì ở tôi, mặc dù tôi là một thằng học trò giỏi. Đám bạn với tôi, tự nhiên, toàn là con nhà nghèo, làm ruộng, câu cá tát đìa, phu cạo mũ ở xóm trong, xóm dưới, có một điều khá lý thú là đám bạn này cũng chẳng chơi với nhóm con nhà giàu, chưa thấy đứa nào lân la hay mon men gì ở trước mấy căn phố bên đó.
    Trong số bạn này, tôi chơi thân với K, nhà K rộng, vách cây, mái thiếc, ở giữa khu ruộng nhỏ, phía sau trường, chuyên làm bún bán trên chợ, tôi thường theo K đi lấy đất sét về nắn trái này trái nọ hay con bò con trâu. K chạy qua chạy lại nhà tôi, tôi chạy lên chạy xuống nhà nó, nhiều khi ba tôi dạy học thêm cho cả hai, chuyện nhà K đem biếu ba mẹ tôi mấy xấp bún mới làm ra, còn nóng hổi là chuyện thường ngày. K thi rớt đệ thất, không học tiếp, lấy vợ rồi cả gia đình dọn về Đức Hòa vài năm sau đó. Một người bạn khác, không thân lắm nhưng cũng đã “chia ngọt xẻ bùi” trong lớp trong trường là H, nhà ở trên ấp Bông Trang, ba H làm nghề lò rèn dao kéo, cái nhà tranh có lò rèn phía trước, một bên sân, nằm dọc theo tỉnh lộ, ngó ra rừng cao su phía bên kia. H có cái xe đạp cũ, sáng thì đạp xuống gởi ở nhà tôi, rồi hai đứa cùng đi qua trường. H đậu tú tài hai, tình nguyện vào trường Võ Bị, miền Nam mất, H vào tù cải tạo của CSBV rồi bị bắn chết khi trốn trại. Lên trung học tôi mới biết thêm một số bạn khác, từ Bông Trang, Bàu Nâu, biết tên, chơi qua lại như H, M, T, M .. nhưng không gọi là thân.
    Đậu vào lớp đệ thất trường trung học công lập tỉnh, năm đầu tiên xa nhà, ba tôi đem gởi tôi ở trọ tại một cái vi-la trên đường Võ Tánh, đi xuống ngã ba chợ cũ không xa của ông đốc M, ở đây, cũng có ba anh lớp lớn, anh N từ Vên Vên, anh T từ Trãng Bàng và anh S dân Bến Cầu cùng ở trọ, thêm nữa là ông giáo sư NH, người Bắc, không nhớ rõ là ông dạy môn gì. Con của ông đốc M, TXS, học chung lớp với tôi, anh của TXS là TXP học hơn hai ba lớp gì đó. Đám bạn cùng lớp chơi với nhau, từ đệ thất lên đệ nhất, có TCH, NBT, HKD, NTX, NKH, HVB, NVP, PDM, NNT, NPL, NHT, TVL, PXH, LT, ĐMR ... những người đã cho tôi “hai chữ tình bạn đúng nghĩa”, riêng TCH, tôi vẫn còn nợ ở anh nhiều quá, cho tới ngày bỏ Tây Ninh đi, không một lần về lại mà đến giờ này, món nợ nghĩa ân đó, tôi chưa trả được chút nào, thì đã muộn quá đời người.
    Những năm đi học ở trường tỉnh là những chuỗi ngày lang thang sống đời ở trọ, hết nhà này tới nhà khác, từ nhà ông đốc M, đến dãy nhà thiếc cây Me, rồi nhà bà chị sáu của NBT ở khu S, đối diện với nhà máy nước đá, đến nhà bác sáu B trong khu nhà thờ tỉnh, cuối cùng là nam ký túc xá, nằm gần đình Hiệp Ninh, không xa cổng trường mấy. Suốt mấy năm này, như đám bạn khác, tôi cũng đón xe về Trà Võ, lẩn quẩn loanh quanh ở nhà vậy thôi, mấy thằng bạn thân hồi tiểu học đã không gặp lại, một vài đứa theo gia đình dọn về chỗ xa nào đó, một vài thằng, lớn chút xíu đã đầu quân vào lính, trấn đóng miền xa. Đám con nhà giàu, vẫn giàu như trước, tôi cũng chẳng biết và nhớ rõ mặt mũi họ ra sao, cho đến bây giờ, lần cuối gặp họ, là ngày sau cùng, chấm dứt mấy tháng học luyện thi vào đệ thất trường Hữu Đức, khi cả bọn cùng đi một chuyến xe lam chiều của anh năm, nhà ở kế bên phòng y tế xã, gần đường lộ, từ Gò Dầu về Trà Võ, hình như họ cũng khá thành công sau này, nghe nói có TMT, sĩ quan cấp Tá,TDK là bác sĩ hay kỹ sư gì đó.
    Tôi rớt tú tài 2, vì một lỗi lầm lớn và đáng trách, dân chợ Trà Võ xầm xì, nhỏ to “con thầy tư thi rớt rồi” từ đầu trên xóm dưới, ba mẹ tôi buồn không ít nhưng ông bà không rầy rà một tiếng nào. Tôi thật sự bỏ Trà Võ đi từ ngày tháng đó, bỏ lại sau lưng những ngổn ngang vui ít buồn nhiều như một kẻ tội đồ, tôi khóc một mình, trên chuyến xe đò chiều xuống Sài Gòn, mẹ tôi dặn dò, “cẩn thận, ráng lo, nhớ về thăm nhà, có túng thiều gì nói cho ông bà biết” khi ông bà cùng đứng chờ xe đưa tôi đi, bên lề khoảng đất trống, đầu dãy phố khu nhà giàu, có cái xe bán nước mía, quay bằng tay, sơn màu xanh hy vọng, ly nước mía mà tôi với K chia hai uống vì không có đủ tiền, trong một ngày chợ phiên nắng gay gắt nóng. Ở phía sân nhà anh em TDK, có tiếng cười rộn rã giữa cái nắng chiều lờ lững xuống, xe chạy qua khỏi đồn lính khá xa, ba mẹ tôi vẫn còn đứng đó.
    Theo một người chị bà con xa, bỏ lên Đà Lạt, dấu mình, định là cố học ôn để thi Tú tài 2 kỳ hai, nhưng không hơn một tuần, buồn quá, không học hành được gì, tôi theo xe đò về lại Sài Gòn, lang thang hết chỗ quen này tới chỗ lạ khác, cơm chay, bánh mì qua ngày qua tháng, rồi bỏ cuộc, không tài nào thi lại như mong muốn. Tôi gặp lại NBT, cũng như mình, “trợt vỏ chuối” tú tài hai, một ngày mưa dầm trong sân trường QGSPSG,  khi đi nộp đơn thi, hai thằng nhìn nhau cười, tôi thì cười ra nước mắt.  Không may, NBT không được vào SPSG nhưng có tên xuống SPMT, thế là hai thằng chia tay lần nữa. Ngày làm giấy tờ nhập học sư phạm, tình cờ quen T, dân Phú Giáo Bình Dương, cùng một lớp, T đưa tôi về nhà trọ, có cái gác cây, trong một cái hẽm nhỏ, gần chợ Nancy, trên đường Cộng Hòa, nơi hắn có S, anh bạn cũng ở Bình Dương đã học xong năm thứ nhất đang ở, giới thiệu với bà chủ, xem như tạm có chỗ ăn chỗ ở đàng hoàng. Cuối năm thứ nhất SPSG, tôi đậu lại tú tài 2, sau khi đi “ứng thí” với tư cách thí sinh tự do ở trường trung học Nguyễn Trãi, bên Khánh Hội. Lúc này, tôi về lại Trà Võ vài lần, có người chào người không, đi về, cũng không cần ai biết, dưới ánh đèn điện giữa nhà, mà ba tôi đã chuyền dây qua, gắn được từ căn phố của anh Phó xã trưởng H bên cạnh, từ vài năm qua, lâu lắm mới thấy ba mẹ tôi cười. Năm sau, thi tốt nghiệp SPSG xong, bạn bè anh chị cùng khóa, khăn gói ra trường, nhận nhiệm sở, tôi bỏ nghề, may mắn vào học HVQGHC. Ba mẹ tôi rời Trà Võ sau đó, dọn về Tây Ninh, ở tại một căn nhà nhỏ, tường đóng bằng ván cây, mái ngói âm dương màu nâu bạc, gần đất thánh Tây, cách ngã ba, trường tư thục Văn Thanh, một cái nghĩa địa bỏ hoang, rong rêu và cũ kỹ.
   Cuối xuân 1975, miền Nam thua cuộc, sau ngày Ban Mê Thuộc mất không lâu, Kontum, nơi tôi vội vã đến, trong một ngày âm u thiếu nắng trời cao nguyên, nhận chức Phó QT, quận châu thành Kontum, cứ nghỉ mình chắc sẽ ở đây vài năm, nhưng rồi cũng đành hấp tấp bỏ đi, khi chưa kịp nhớ hết tên những cái buôn làng gọi bằng tiếng Thượng trong quận mình, theo sóng người di tản xuôi nam. Cũng như ngày bỏ Tây Ninh, tôi bỏ Kontum, một lần rồi thôi, không hẹn và chắc sẽ không có ngày về lại.  
    Mai đây, ở kiếp người sau, nếu có và nếu cho tôi dịp may, kể lại chuyện mình, “chuyện kể không trọn của một phần ba đời người” được xem là một phần đời mà tôi đã bỏ quên dưới  mộ.

Thuyên Huy

Viết tạ lỗi với những người bạn đã cho tôi nhiều hơn là nhận, cũng xin mượn để trả thay cho nhiều món nợ đời mà tôi không thể trả ở kiếp này.



Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

Xót Xa Đưa Người Đưa - Chuyện Ngắn của Thuyên Huy

Để nhớ những người có thật trong bối cảnh tự dựng của câu chuyện

   Trời bất chợt mưa, phơn phớt, lất phất nhẹ, làm dáng trên tóc trên vai người qua lại trên đường, từ phía bên kia sông, miệt Thủ Thiêm, nhạt từng sợi, nắng ngập ngừng len lén xuyên màn nước mờ đục màu bụi lùa ngược lên, lẻ loi ở cuối góc phố,  vừa qua ngang nhà ga xe lửa, đành đội mưa đi cho thật lẹ, để kịp chuyến xe đò sớm về Tây Ninh, sau hai ngày xuống Sài Gòn, thân quê mùa, ăn nhờ ở đậu tại nhà một người quen xa, để lảnh chứng chỉ tú tài một ở Nha Khảo Thí, tới ngã rẽ đầu đường Phạm Hồng Thái thì xe đã  qua khỏi bồn binh Lê Văn Duyệt rồi, mưa cũng vẫn mưa, như nãy giờ, nhưng lại nặng hột hơn, đành chờ chuyến sau.
   Khách chờ xe đứng ngồi, trốn mưa đông nghẹt trong dãy quán dọc theo bến, xúm xích ồn ào nhìn qua nhìn lại, không còn chỗ trống, thấy phía bên kia đường, mái hiên trước căn nhà cửa sắt đóng kín của ai đó, không người, nhanh chân băng qua, chưa kịp đứng nép sát vào, thì từ hướng mấy cái quán ăn, cô con gái tóc dài ngang nửa lưng, quần tây áo thung vàng nhạt cũng vừa tới, xách tay nhỏ ôm trước ngực, trông là dân thành thị, Trường đứng lùi qua một bên cho rộng chỗ hơn, gật đầu nhìn mưa rồi nhìn cô ta chào, đưa tay vuốt hờ mấy giọt nước thưa đọng đâu đó trên tóc, cô khẻ cười, cái cười đẹp thật đẹp, bẽn lẽn cám ơn, hỏi nhau mới biết cô nàng cũng chờ xe về Tây Ninh.
   Làm quen, ngồi bên nhau trên xe, hỏi thăm qua lại chuyện trường học, đất trời mưa nắng chuyện trên phố dưới sông, từ giã nhau khi xe ngừng ở bến Gò Dầu, Bảo Nghi xuống ngay đầu ngã ba phố, cả hai chào nhưng không hẹn lần nào gặp lại, xe rời bến, Trường tiếc rẽ nhìn theo, bóng cô nàng nhỏ dần cuối đường, tóc bay ngược thả dài theo chiều gió sông lên, nắng sắp chiều, vắt lững lơ trên đầu hàng cây phượng già không còn hoa, lưa thưa xác phượng cuối mùa tím bầm một màu trên đầu dốc chợ.
   Cũng sắp giữa trưa, mùng hai tết, sẳn mượn được chiếc xe Honda của người nhà bên cạnh, Trường xuống Gò Dầu tìm Quốc, thằng bạn chơi thân cùng lớp của mấy năm đầu trường tỉnh, trước khi về lại Gò Dầu lúc trường quận mới có thêm mấy lớp đệ nhị cấp, nhà ở phía dưới cuối chợ, ven sông, ngay góc ngã ba, mà cũng lâu lắm hai người không gặp. Chợ đông nghẹt, người chợ kẻ quê, áo quần thơm mùi vải mới, xe lam xe lôi trên đường, ghe lớn ghe nhỏ dưới bến, ồn ào rộn rã tiếng nói tiếng cười, tiếng lân tiếng pháo, góc này cả chục sòng bầu cua cá cọp hò hét, góc kia lanh lảnh tiếng kêu lô tô số năm số mười, hai bên phố cửa tiệm im lìm nhưng đường trên ngõ dưới người đông hơn cả buổi nhóm chợ, bỏ xe ở nhà Quốc, vòng vòng cho biết sự tình, thử thời vận con cá trái bầu tìm hên năm mới nhất là mùa thi định mạng cũng ngấp nghé đâu đó, đầu trên xóm dưới thấy cũng đủ, hai người tới ngồi ngoài lề cái quán cà phê đầu dốc chợ, ngó qua trường tiểu học, nhìn thiên hạ lại qua trên đường, hỏi nhau chuyện ngày mai, nhớ lại ngày tháng cũ.
   Bên kia, hai cô gái cười nói băng qua đường, chiếc xe lôi máy chở đầy người ì ạch lên dốc, bóp kèn chỉ chỏ, Quốc đứng bật dậy gọi “Bảo Nghi” rồi đi ra, Trường ngồi bất động, Quốc quày trở vô, hai cô chậm bước theo sau, Bảo Nghi nhìn Trường, Quốc chưa kịp nói gì thì hai người cùng buột miệng “Bảo Nghi, anh Trường”, ngồi xuống, Quốc và cô bạn gái đi chung chờ, hai người kể cho nghe chuyện quen nhau hôm trời mưa chờ chuyến xe về Gò Dầu ngày đó, trời ướm chút nắng chiều sớm, từng vạt lơ lững vắt ngang bên kia sông, chợ quận vẫn cứ người và người, tay bắt tay chào chúc nhau nhiều may hơn rũi, Bảo Nghi cùng cô bạn bỏ đi trước, lần này nói khẻ với Trường “hẹn có ngày gặp lại”, bất chợt đời bổng vui, Trường cười một mình nhìn theo, Quốc gục gặc đầu nói thầm “thôi rồi thằng bạn mình đang muốn chết trong lòng một ít đây”.
   Trở lại nhà Quốc, chia tay, hai người đứng nấn ná nói thêm nói bớt vài chuyện, Quốc chỉ qua căn nhà gạch khá lớn có lầu, có hàng rào bông giấy đỏ bao quanh và cái sân trước trải sỏi trắng, cách nhà anh ta chừng bốn năm căn, cũng ngó mặt ra sông, cho biết là nhà của Bảo Nghi, ba của cô, bác Đạm hiện là Dân biểu Quốc Hội đơn vị Hiếu Thiện, anh trai lớn đang là sĩ quan huấn luyện viên ở trường Võ Bị Đà Lạt, Bảo Nghi năm nay học đệ nhị cũng là năm thi, nghe nói có nhà nữa đâu đó dưới Sài Gòn. Về tới Trà Võ rồi mà lòng Trường cứ ray cứ rứt, tưởng chừng như đã bỏ quên cái gì đó cần phải tìm lại ở lại Gò Dầu.
   Lớp học, sân trường, con sông chia đôi bờ, bên này bên kia, nắng sớm mưa muộn, phố chợ Tây Ninh thôi còn là cái mến cái thương của những ngày tháng cũ, những ngày mới chập chững, ngập ngừng năm đầu trung học, làm quen chốn lạ, giờ ngồi bên bàn học, sách vở mở hờ, ra vào thẩn thờ cứ nhung nhung nhớ nhớ, nhớ buổi sáng trời mưa ở bến xe dưới Sài Gòn, nhớ góc đường quen đầu dốc chợ Gò Dầu ngày đó, bạn bè cùng ở trọ trong khu ký túc xá nhìn nhau, “thằng Trường, anh Trường giờ thấy là lạ”, chính Trường cũng thấy mình là lạ, cứ nhớ Gò Dầu và chớm biết thương một người, thương da diết.
   Bốn người, ngồi quanh cái bàn nhỏ ngoài hiên quán cơm cuối dãy phố, ngó qua đường vào trường trung học quận, sáng thứ bảy giữa trưa trời có chút mù mờ bên kia sông, không mưa nhưng chưa chịu nắng, coi vậy mà Quốc cũng làm được việc, hôm từ giã nhau  mùng hai tết ở nhà Quốc, Trường có nhờ anh ta “nói ra nói vô” hẹn hò sao đó, để mình có dịp gặp lại cô nàng, tại sao thì Quốc đã biết rồi. Cô bạn gái của Bảo Nghi nói nhiều nhưng có duyên, cũng đã “đánh hơi” được nổi lòng ai đó cho nên “bóng gió” nửa lời, thỉnh thoảng nhìn qua Quốc “thêm mắm thêm muối”, Bảo Nghi ngồi nhìn cười mĩm mà “không thêm không bớt” lời nào, hỏi nhau hết chuyện xa chuyện gần, rồi chuyện mình chuyện người, cũng chưa hết chuyện, bất chợt loáng thoáng vài vạt mưa nhẹ lấm tấm như sương hờ hững về ngang từ phía dưới sông không lâu rồi ngưng, có tiếng người lơ xe chuyến xe cuối về Tây Ninh gọi khách ngoài bến, ba người đưa Trường đi, đứng đó không ai nói gì, nhìn theo xe từ từ ra khỏi ngã ba, buồn tênh buồn man mác.
   Chừng ngần ấy thôi, Trường ôm ấp chút tình thương thầm đầu đời mới có riêng mình mà chưa biết khi nào mới dám thật sự nói ra, có những đêm ngồi học bổng chợt buồn đâu đó thoáng qua, làm ngưng ngay nổi nhớ, nghĩ lại mình, nhà nghèo vách đất mái tôn, nằm nép mình ngay ngả rẻ đầu ấp dưới chợ xã Trà Võ, con đường đất làng đi xuống cái bến cũ bỏ hoang, không đò bên này bờ sông Vàm Cỏ Đông, ngó qua bên kia Bời Lời, ba mẹ Trường làm công nhân ở nhà máy xay lúa giữa dãy nhà dọc theo tỉnh lộ, chú hai Trứ, ba Trường, bỏ học từ năm lớp ba lớp tư, trôi giạt từ miệt Dầu Tiếng Khiêm Hanh về đây, làm công việc canh giữ cho máy chạy, mẹ Trường, thiếm hai Bông, phụ giao bao bố chỉ may cho người đem lúa tới xay và quét dọn góc này góc kia, từ ngày còn học trường làng, hễ tới mùa trái rụng, mấy ngày nhà máy đóng cửa trong tuần, Trường tay mang cái bao bố cát xanh, theo cha mẹ vào rừng lượm hột cao su đong bán cho ông ba Thức, chủ tiệm tạp hóa đầu phố,  thu mua gom lại chất thành đống rồi chở đi đâu đó, cũng như người dân nghèo trong xã, Trường vẫn đi lượm hột cao su cho tới những năm đệ tứ đệ tam trong ba tháng nghỉ hè, lên đệ nhị chú hai Trứ không cho Trường làm nữa, dặn dò con phải ráng học đi thi, ở trên tỉnh tuy bài vở nhiều nhưng thứ bảy chủ nhật nào không về nhà, Trường đi làm phụ bán hàng cho một tiệm bán quần áo, giày dép trong nhà lồng chợ, nên cũng có chút tiền dư cho giấy mực bút sách, gọi là nghèo, tuy nhiên cũng tạm đủ ăn đủ sống, dành dụm chắt chiu, khá hơn nữa thì chắc không được rồi. Nghĩ về người, không phải nói thêm, nhìn căn nhà gạch khang trang hoa lá, rào kín cổng khép và theo những gì Quốc cho biết thì, Trường không dám nghĩ xa hơn.
   Xế trưa sau bữa ăn ngoài cái tiệm cơm lớn, cuối dốc chợ, ngó qua văn phòng quận, mừng thi đậu, người tú tài một kẻ tú tài hai rộn ràng mừng vui, Bảo Nghi vẫn vậy, ít nói cười nhiều, Quốc thì cũng “thêm hành thêm tỏi” cho chuyện anh chuyện em “có chút mặn mòi” như thường lệ, theo lời mời, cả bọn năm sáu đứa kéo nhau về lại nhà Bảo Nghi, đám con gái vào nhà cười nói vang rân lâu rồi, vì Trường nấn ná ngài ngại nên Quốc cũng lẩn quẩn bên ngoài, làm bộ chỉ chỏ đò ngang đò dọc dưới bến chợ, bác sáu gái, mẹ Bảo Nghi niềm nở bước ra cửa gọi vào, Quốc dạ một tiếng lớn rồi đẩy Trường đi trước. Bà hỏi han chuyện này chuyện kia, Trường cứ “một dạ một thưa” chưa trọn tiếng, ở nhà sau, tiếng đám con gái nói cười vẫn còn nghe rõ mồn một. Ra về, Quốc đưa Trường lên bến xe, Bảo Nghi cùng đám bạn đứng ngoài cổng nhìn theo, ở một phía trời bên kia, nắng chợt buông mình tắt sớm, chiều lấp lững qua sông trải một màu vàng nhạt, cuối dãy phố Trường quay nhìn lại, Bảo Nghi vẫn còn đứng đó một mình, chuyến xe lam chiều về Trà Võ buồn hắt buồn hiu, Trường vẫn chưa dám nói ra những gì mình muốn nói.
   Âm ỉ và dai dẳng từ mấy năm qua, chiến tranh giờ bộc phát dữ dội và đôi lúc ác liệt nhiều nơi hơn trước, tiếng súng tiếng bom, tiếng người khóc, tiếng kèn tiễn hồn người lính chết trận nghe quen dần đâu đó đường trên ngõ dưới, cuối ấp đầu làng, đám bạn bè quen lạ cùng lứa cùng lớp, có đứa không may ghế trường thi, đã vào lính, khoát áo trận miệt mài rừng sâu núi cao sông rộng. Lên đại học, Trường vào trường kỹ thuật Phú Thọ, học ban cán sự công chánh hai năm, ngắn hơn, thay vì bốn năm như bên kỹ sư, đở phải lo tiền ăn tiền mặc, mau có công ăn việc làm sớm đở cho gia đình, ở trọ chung với hai ba thằng bạn quê miệt Cầy Xiêng Thanh Điền trên một căn gác cây, trong cái hẽm nhỏ sát hông trường Đắc Lộ, cạnh bến xe ngã tư Bảy Hiền, Quốc thì vào trường Dược, ở với gia đình người cậu bên chợ Hòa Hưng, mấy ngày mới xuống Sài Gòn, đầu năm học hai người còn chạy qua chạy lại “mầy mầy tao tao” nhớ chuyện xưa nhắc chuyện cũ nhưng rồi, bài vở sách đèn chất chồng, phận ai nấy lo, it khi gặp, từ đó Trường cũng chưa có lần ghé lại Gò Dầu mỗi khi về Trà Võ, dù chuyến xe đò nào đi sớm về muộn gì cũng đều ghé ngang, một vài lần gởi thư viết vài giòng thăm hỏi Bảo Nghi nhờ Quốc đưa khi anh ta về trên đó, rồi nhận lại đôi lời nhắn từ cô nàng lúc Quốc trở xuống Sài Gòn, vậy thôi, vẫn cứ thương thầm như ngày mới gặp đã thương từ buổi sáng hôm ấy.
   Trời lấp lững chiều, thiếm hai Bông, mẹ của Trường, trợt chân té từ trên đầu ống máng cao, nơi lúa xay thành gạo rớt xuống chỗ treo bao bố chờ hứng phía dưới sàn nhà máy, xuống đất khi cố leo lên, vói tay lùa mớ gạo tắc nghẽn, đùn lại một chỗ cứng, ông bác đứng từ nãy giờ thấy còn lâu mới đầy, bỏ ra ngoài cửa kéo vài hơi thuốc lá, trở vô hớt hơ hớt hãi la lớn kêu cứu khi thấy thiếm hai Bông nằm co quắp, bất động không xa mấy xấp bao bố không, người trong nhà máy bu lại, khiêng thiếm lên, đặt trên tấm thiếc lớn, đem ra ngoài cửa, cho máy tắt, chú hai Trứ chạy xộc lại, nắm tay nắm chân kêu trời kêu đất, thiếm hai vẫn không nhúc nhích, ông khóc ngất, ai đó chạy kêu chị Mật, làm y tá ở trạm y tế xã lên, chị cũng không làm gì hơn, không lâu sau, và cũng may anh năm Hoạch còn ở nhà, nên kịp đưa thiếm lên bệnh viện trên tỉnh. Đã ba ngày, thiếm hai Bông vẫn mê man, chưa tỉnh lại, vì máu còn đọng trong đầu khi thiếm té đập mạnh xuống sàn xi măng của nhà máy xay lúa, cùng lúc cột xương sống lưng nứt, cong qua một bên, cả bác sĩ của bệnh viện và bên quân y viện tỉnh, ngày đêm tìm mọi cách cứu cho được, chú hai Trứ cứ ngồi bên giường khóc và khóc.
   Trời đứng bóng giữa trưa, nắng đầu hè hừng hực nóng, xuống xe, Trường vừa đi vừa chạy tới bệnh viện, bước lên bậc thềm trước cửa phòng bệnh, anh quăng túi xách xuống đất, hai cha con ôm nhau khóc rưng rức, đã không ngủ mấy ngày nên chú hai Trứ mệt đừ, đứng không vững, Trường đở ông ngồi xuống một bên giường bệnh, cái mền đắp trên người thiếm hai Bông cũng không động đậy, không lâu Trường lại dìu ông ra ngồi ngoài hành lang chờ cô y tá chích thuốc cho thiếm hai, Trường nhìn vào trong, lòng đau nhói. Được tin anh tư Lân, con rễ ông ba Thức, lái xe hàng chở đồ đi Long An, ghé ngang nhắn sáng sớm, Trường quăng sách vở học thi vào một góc, không màng chuyện thi cử cuối năm mấy ngày tới đây, vội vã đón xe về Tây Ninh, ngồi trên xe thầm van thầm vái cho mẹ mình tai qua nạn khỏi, giờ thì bà nằm đó, có muốn nói muốn hỏi gì cũng không biết làm sao. Bỏ nhà cửa hai ba ngày, người đuối nhiều, như đã bàn với nhau, sáng hôm sau, chú hai Trứ đón xe về Trà Võ, lấy thêm chút quần áo để có mà thay đổi và cũng để nhờ người quen kế bên trông coi giùm, mặc dù trong nhà chẳng có gì quý giá, ông đi rồi, thiếm hai vẫn vậy, Trường đứng tựa lưng ngoài cửa phòng bệnh nhìn theo, sương đêm tan dần trong sân bệnh viện, ngoài cổng tiếng người tiếng xe lại bắt đầu một ngày ồn ào như mọi ngày.
   Sau mười mấy ngày trong bệnh viện về nhà, bà con chòm xóm, cùng mấy người quen thường xay lúa ở nhà máy đến thăm hết người này người nọ, thiếm hai Bông lành bệnh nhưng giờ không đứng thẳng, đi khập khễnh, phải có cây nạng gỗ chống, trí nhớ thì còn đó nhưng lại có khi nhớ trước quên sau, tàn tật thì không gọi là tàn tật nhưng không còn làm gì hơn, thiếm nằm nhiều hơn đi, lòng vòng, quanh quẩn trong nhà trong sân, ông sáu Điển, chủ nhà máy xay lúa tốt bụng, giúp hai vợ chồng một số tiền kha khá, để chú hai Trứ nghỉ lo thuốc thang cho thiếm vài bữa rồi trở lại nhà máy. Trở xuống Sài Gòn, căn gác vắng tanh, mấy thằng bạn về Tây Ninh chắc cũng lâu rồi, mùa thi cuối năm đã qua, Trường không có mặt trong phòng những ngày thi đó, sách vở bỏ ngang nằm bừa bải trên bàn, trong góc phòng vẫn còn trang đóng trang mở, Trường ngồi thừ ra, thở dài, lặng thinh nhìn xuống đường, người chen chúc người hai bên phố giữa cái nắng xế trưa của mấy ngày giữa hạ, chần chừ chốc lát, Trường bỏ đi nhanh xuống, bắt kịp chiếc xe buýt về chợ Sài gòn vẫn còn đó, xuống xe, băng qua bên kia đường, đứng ở một góc ngã ba vào cư xá Lữ Gia, trốn nắng dưới hàng phượng cao, ngập hoa đỏ, đỏ như màu nắng, nhìn qua sân trường, vắng tanh không một bóng người, bỗng dưng Trường bật khóc. Chuyến xe đò  về Trà Võ hôm sau không ghé Gò Dầu, héo hắt buồn hơn những chuyến xe ngày trước.
   Hai người đứng tiễn nhau ngoài đường, ngồi trên xe Honda, Quốc nấn ná chưa chịu đi, nhìn nhau cười, giấu buồn trên mặt, trời quá trưa, gió từ bên kia rừng cao su mang theo mùi lá chết lùa trong cái nắng quê hâm hấp nóng, chợ xã thưa người từ lâu, chuyến xe lam chở khách đi Gò Dầu của anh năm Hoạch chưa chịu chạy. Thi xong, Quốc lên Ngã Tư Bảy Hiền tìm Trường, không còn ai ở đó, hỏi thêm thì bác chủ nhà cho biết Trường về quê cả tháng nay rồi chưa thấy xuống, Quốc ngờ ngợ “còn ngày thi cuối năm thì sao”, về tới Gò Dầu, cũng chưa gặp lại Bảo Nghi, Quốc vội vã lên Trà Võ ngay hôm sau, cho nên giờ thì cũng không nói được gì về cô ta hơn, vẫn cứ lặng thinh, Quốc nổ máy cho xe chầm chậm quay đầu ra đường nhựa, hai ba người  lính nghĩa quân quen, từ phía đồn lính bên văn phòng hội đồng xã đi về hướng vào chợ, thấy Trường vẫy tay chào, Quốc quay lại “có gì cho tao biết” rồi chạy vụt đi, Trường nhìn theo thì thầm “ừ thì có gì tao cho mầy biết”.
   Hết hè, trước ngày trở xuống Sài Gòn, vào học lại, Quốc một lần nữa lên Trà Võ, chú hai Trứ cho biết Trường đã vào lính, nghe nói ở trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, không biết chừng nào mãn khóa, Quốc ngỡ ngàng không ít, buột miệng tại sao, khi biết rằng Trường vẫn còn được tiếp tục hoản dịch, không phải bị động viên vì là con duy nhất của gia đình, thiếm hai Bông vẫn vậy, cười cười hỏi hỏi không đầu không đuôi nhưng Quốc không chắc là thiếm có biết mình là ai không, chào ra về, nhìn lại căn nhà, Quốc cắn môi, lòng chùng xuống nặng trĩu buồn. Suốt năm học đó, về Gò Dầu thăm nhà thứ bảy chủ nhật nhiều lần nhưng không lần nào gặp Bảo Nghi, có lần ghé tạt qua thăm bác gái, bà cô bảo cô thỉnh thoảng cũng có về nhưng không ở lâu, cô ta vào năm thứ nhất Nha Khoa, đưa cho Quốc cái địa chỉ nhà dưới Sài Gòn dặn khi nào rảnh đến chơi.
   Chiến trận giờ càng khốc liệt hơn trước, trên cả nước, đâu đâu cứ tăng dần, chưa thấy và không biết chừng nào mới yên, xe cộ đi về Sài Gòn Tây Ninh bị kẹt vì Việt Cộng đấp mô gài mìn là chuyện thường tình, không còn chuyện một ngày một bữa nữa, nhất là đoạn khỏi Củ Chi, Suối Sâu Suối Cụt, Trãng Bàng, Bình Nguyên, Gò Chùa, Bến Mương, quân xa lính trận đôi lúc rầm rập suốt ngày trên đường, bất kể chiều mưa sáng nắng, tiếng đại bác, tiếng bom từ đâu đó, khi thì gần lúc thì xa, đì đùng dội về phố xá nghe rõ, đêm như ngày, lo mà sợ nhưng riết rồi cũng quen dần đi, trước tết vài ngày, hôm trên đường về Gò Dầu, trời có chút nắng sáng lấp lóe, tới ngã ba đầu ngõ vào Tha La xe đò xe hàng đủ loại, nhỏ lớn kẹt lại, nối đuôi nhau ngừng một hàng dài, phía trên kia có mấy cái mô đất, cao lớn, do du kích Việt Cộng trong vùng ra đấp tối hôm qua, hành khách tủa nhau xuống, người ngồi kẽ đứng hai bên đường, xì xầm to nhỏ, dường như chắc quen rồi, không thấy ai vội vã, than phiền, chờ lính địa phương quân VNCH của quận Trãng Bàng lên mở đường. Xuống xe, đứng xớ rớ cũng lâu, tới lui quanh qua quẩn lại, thôi thì ráng vui theo cái vui của người, Quốc bỏ đi ngược lại góc ngã ba, định kiếm chuyện tán dốc với mấy anh lơ xe đang đứng tụm nhau nói cười hút thuốc lá, có tiếng ai đó gọi mình phía sau, ngay dãy quán bán bánh canh, Quốc quay đầu nhìn lại, từ xa Bảo Nghi vẫy tay gọi, hỏi nhau dăm ba câu thì đường đã dọn, đầu trên đầu dưới, người ta gọi nhau ơi ới, tài xế lơ xe lăng xăng rục rịch nổ máy, hai người vội đi lại xe mình, hẹn gặp nhau ở Gò Dầu.
   Trong góc quán cũ, cũng trưa mùng hai tết, Quốc nói hết những gì muốn nói về Trường, nói mà buồn thiu buồn thít, Bảo Nghi ngồi lặng thinh, nhìn ra ngoài ngã ba, chiếc xe đò về Tây Ninh vừa vào bến, nắng khuất đâu đó bên kia cầu, dăm ba người khách thong thả xuống, không có ai quen, lòng buốt đau, Quốc bỏ đi trước một khoảng khá xa, Bảo Nghi vẫn còn ngồi đó, vẫn nhìn hướng bến xe, vắng tanh, thì thầm “xin lỗi, đã muộn rồi Trường ơi”.
   *
   Ra trường, Trường chọn binh chủng Nhảy Dù, về Trà Võ thăm nhà, ngang qua Sài Gòn nhưng không tìm Quốc, thiếm hai Bông chẳng khá gì hơn, cũng cứ quên trước quên sau, cười cũng như khóc, hai cha con ngồi nhìn, không biết vui hay buồn, thôi đành cho số mạng, cầu mong trời đất ông bà còn nhủ lòng thương. Lộc Ninh mất, giữa tháng tư năm 1972, An Lộc bị quân Bắc Việt xiết chặt vòng giây, quân trú phòng VNCH cố giữ phần đất còn lại chừng vài cây số vuông, không làm sao bung ra mở đường được, tiểu đoàn 6 Dù của Trường được trực thăng vận xuống ấp Srok Ton Cui, cách An Lộc chừng bốn năm cây số về phía đông, trước để dọn bãi đáp cho tiểu đoàn 5 và 8 nhảy xuống theo một ngày sau, rồi hai tiểu đoàn này dàn quân tiến về An Lộc, tiểu đoàn 6 ở lại giữ Đồi Gió bọc hậu, sau đó bị quân Bắc Việt từ hướng Phước Long càn quân xuống tấn công suốt mấy ngày đêm bằng mọi thứ họ có, người, xe tăng và đại pháo, cố sức chống cự nhưng trước quân số biển người, tiểu đoàn đành thua cuộc, Trường bị trúng đạn pháo, được mang theo trên đường rút quân nhưng không sống nổi vì máu ra nhiều quá, dù đã được quấn buột bởi không biết bao nhiêu là băng là vải, khi số quân còn lại bắt tay được với quân bạn nới rộng được vòng đai từ An Lộc bung ra, mấy người lính mang anh theo, thay phiên nhau vuốt mắt, một hai anh có đạo, đọc lầm thầm gì đó, vừa làm dấu thánh giá vừa rưng rức khóc, trong túi áo Trường, người ta tìm được hai lá thư, một ngắn một dài, đề ngày viết chừng hơn mười ngày trước.
   Trước hôm nghỉ hè vài ngày, buổi trưa từ trường về, cầm lá thư mới nhận sáng nay do bà mợ đưa lại, người gởi đề chữ tắt và số KBC của quân bưu, thấy lạ, đi ngay vào phòng, mở thư đọc, Quốc gục xuống bàn, tay bưng mặt khóc “trời ơi”. Sáng hôm sau, Quốc ra ngã tư Bảy Hiền, đón chuyến xe sớm về Gò Dầu vì chiều hôm qua, lần đầu tìm đến nhà Bảo Nghi bên đường Phan Thanh Giản, nhưng ở đó cho biết cô đã về trển mấy ngày nay.
     Đứng trước nhà nhìn qua, trời đã quá giữa trưa, nắng hừng hực nóng, cái nắng của những ngày đầu hạ từ bên kia sông lùa về, rọi sáng rực hàng chữ “Lễ Đính Hôn” trên tấm bảng gỗ treo trước cổng nhà Bảo Nghi một màu đỏ thắm, trong sân nhiều cô ra vào, tay hoa tay lá, cười nói như đã nói cười hôm Quốc và Trường theo về đây sau bữa ăn mừng thi đậu ngoài chợ quận, bỏ lá thư tình dài, nói tiếng yêu người của Trường nhờ đưa lại vào túi áo, lòng buồn chùng xuống, thương cho bạn, lặng lẽ vào nhà, Quốc nói một mình “thôi không cần phải đưa làm gì”. Trên đường lên bến xe, cúi đầu, Quốc vội vã bước nhanh ngang qua nhà Bảo Nghi, không nhìn lại, sau lưng người càng lúc càng đông ở đó, nắng dịu đi chút đỉnh, chợ quận không còn mấy ai, Quốc đưa tay sờ lá thư trong túi, bước nhanh hơn thì thầm “thôi để cho người có hạnh phúc trọn vẹn đi Trường ơi,”, có tiếng đại bác đâu đó trên miệt trời  biên giới Miên, xa xa lẻ loi vọng về, chuyến xe đi Sài Gòn rời bến, qua khung cửa kiếng, Quốc nói thay Trường hai tiếng “vĩnh biệt”.

Thuyên Huy
Giữa mùa mưa xứ người 2017

   
   
   
   
   
   
   
   
 

CÕI TRĂNG - Thơ Sông Thu Và Thơ Họa

CÕI TRĂNG Ánh trăng vằng vặc khắp không gian Vầng sáng lung linh phủ ngập tràn Vài sợi mây vàng trôi lững thững Một dòng nhũ bạc chảy miên ...