Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Thánh Thất Đa Phước Đà Lạt.. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Thánh Thất Đa Phước Đà Lạt.. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

THÁNH THẤT ĐA PHƯỚC (ĐÀ LẠT)

          
                     THÁNH THẤT ĐA PHƯỚC (ĐÀ LẠT)
       Hồ Than Thở Đà Lạt

Năm 1893, một bác sĩ người Pháp tên Alexandre Yersin khi đi khảo sát đã khám phá địa bàn vùng cao nguyên Đà lạt, nơi cư trú của người Lạch, Chil, Srê thuộc sắc tộc Kho. Thấy nơi đây là vùng cảnh đẹp, khí hậu tốt nên ông Yersin đề nghị lên Toàn quyền Đông Dương Paul Dourmer lúc bấy giờ thành lập khu nghĩ mát và du lịch cho khách người phương Tây. Đề án được viên Toàn quyền chấp thuận.

Ngày 01-01-1899, Toàn quyền Paul Dourmer ký nghị định thành lập vùng nầy thành tỉnh Đồng Nai Thượng với thủ phủ là Djiring và gồm hai trạm hành chánh là Tánh Linh và Lâm Viên, cả hai địa điểm là Đà lạt hiện nay, và bắt đầu xây dựng tuyến đường bộ từ Phan Rang và Sài gòn lên Đà lạt.. Đến năm 1915, hai tuyến đường đã được hoàn chỉnh và khánh thành, tạo cơ hội rất thuận lợi cho việc giao thương, mua bán giữa miền xuôi và cao nguyên Đà lạt.
Sang đến năm 1938, thời gian 12 năm sau ngày khai Đạo Cao Đài, Hội Thánh đã bổ nhiệm Lễ sanh Ngọc Ngọ Thanh (Trần văn Ngọ) từ tỉnh Long An đi lên Đà Lạt nghiên cứu xem có thể nào tìm cơ sở để truyền mối Đạo của Thầy lên vùng đất mới nầy không.

Lúc bấy giờ, đa số dân sống trong khu vực Tánh Linh và Lâm Viên hầu hết là người từ miền Trung Việt, lên làm công nhân cho Pháp tại các mỏ đá hay sở trồng trà Cầu Đất.

Người Huế thì cư trú ở ấp Ánh Sáng và người gốc Bắc thì thành lập nên ấp Hà Đông.
Sau đó, vua Bảo Đại ban hành dụ số 10 cấm hẳn việc truyền Đạo ra miền Trung. Tình huống lúc nầy thật là khó khăn cho việc truyền giáo. Lễ sanh Ngọc Ngọ Thanh vừa cầu nguyện Ơn Trên phò hộ, vừa bạo gan đi tiếp xúc với các viên chức địa phương để bộc bạch ý muốn xin được giúp đỡ cho Đạo Cao Đài. Gia đình đầu tiên ông đến là ông Nguyễn văn Chất, Chánh Tuần Kiểm (thường gọi là ông Chánh Cao) và vợ là bà Lê thị Nhân. Như một sự huyền diệu, hai ông bà chẳng những hứa giúp mà còn xin được nhập môn theo Đạo Cao Đài. Buổi lễ nhập môn được tổ chức ngoài sân trước nhà của ông bà Chánh Tuần Kiểm. Hai vợ chồng đã chân thành tuyên hứa giữ trọn lời minh thệ cho đến chết. Ông Chất sau đó được bầu cử vào chức vụ Chánh Trị Sự Hương Đạo Đa Lợi. Rồi có thêm các chức việc khác như ông Cửu Học, Phó Trị Sự và ông Trần Đoài ở mỏ đá được bầu làm Thông Sự. Đó là Bàn Trị Sự và Hương Đạo đầu tiên của Đà Lạt.

Thành phố Đà Lạt ngày nay


Từ từ công việc tiến triển khả quan dần. Ông Chất vận động thêm ông Chánh Tuần Kiểm Màng lập thêm Hương Đạo Tân Lạc, ông Chánh Tuần Kiểm Lự lập Hương Đạo Xuân An, rồi hai Hương Đạo nữa được thành lập là Mỹ Thành và Phước Thành. Những ngày Sóc Vọng, đồng đạo khắp nơi qui tụ tại nhà ông Nguyễn văn Chất để cúng kiến và học Đạo.

Về sau, do sự giúp đỡ của bà Bảy Đò, ông Lễ Sanh Ngọc Ngọ Thanh, tìm cách đến thẳng nhà ông Nguyễn quý Thứ, Đầu Quận sở tại độ được hai vợ chồng nầy theo Đạo Cao Đài. Cả hai đều vui vẻ nhập môn và nhận chức Chánh Trị Sự Nam, Nữ Đầu Hương Đạo Đa Phước.

Rồi sau đó, các Hương Đạo mới khác lần lược được thành lập như Hương Đạo Xuân Thành, Đa Lộc, Túy Sơn, Đa Thọ.

Đến năm 1945, số Hương Đạo đã lên đế con số 13. Đồng đạo và người tình nguyện đã thi nhau mở rộng vùng đất đai rừng núi thành khu gia cư. Năm Bảo Đại thứ 20, tất cả Bàn Trị Sự và đồng đạo Hương Đạo Đa Phước với chữ ký của CTS.Nguyễn xuân Phong, PTS.Lê đình Khôi, PTS.Nguyễn Thâm, PTS.Trần quang Hiển, TS.Bùi Dư, Nữ CTS.Trần thị Lý đã làm đơn xin cấp đất giúp đỡ cho Đạo. Đơn xin đã được Lý Trưởng Lê đình Khôi cùng Hội Đồng Hương Chức địa phương đồng ý cấp cho 10 mẫu đất đồi làm tài sản của Đạo. Đó là ngày 20-3 năm Ất Dậu (DL: 01-5-1945, năm Bảo Đại thứ 20). Sau cùng thành lập thêm hai Hương Đạo mới là Trung Bắc và Ban Hòa. Tính đến năm 2008, số Hương Đạo của Đà Lạt là 15 Hương gồm: Xuân An, Tân Lạc, Đa Phước, Xuân Thành, Mỹ Thành, Đa Hòa, Trung Bắc, Đa Lợi, Đa Lộc, Trường Xuân, Túy Sơn, Đa Thọ, Ban Hòa, Phước Thành, Đa Thành.


Thời kỳ VNCH, Thị Trưởng Đà Lạt đã ra quyết định số 189-DL/HC/3 ký ngày 10-7-1971 chấp thuận cho Hội Thánh Cao Đài TTTN thuê phần đất đã được Hội Đồng Hương Chức thuận cấp, diện tích lên đến 16 ha 42 sào với giá tượng trưng 1 đồng/m2.

Sau biến cố 30-4-75, vào năm 2001, Chánh quyền địa phương tỉnh Lâm Đồng đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nầy dùng cho mục đích tôn giáo lâu dài và cấp sổ đỏ sở hửu đất tổng cộng 2 ha7. Số đất còn lại vì thời gian thay đổi đã chuyển nhượng qua lại một số vẫn còn trong sở hữu của cá nhân, hay của cơ quan chánh quyền chưa trả lại cho Đạo, nhiều phần đất của Đạo là khu phố ở chợ Đà Lạt đang bị cá nhân chiếm dụng.

Quyền Đầu Tộc Đạo Nguyễn văn Chất, ông Trần Đoài và ông Nguyễn Thâm cùng đứng đơn lên ông Tổng Đốc Lý xin cất Thánh Thất tại Đà Lạt. Đơn được chấp thuận. Thánh Thất lúc đầu làm bằng gỗ, lợp tranh. Đó là Thánh Thất Cao Đài đầu tiên ở Đà Lạt.

Năm Mậu Tý (1948), Đức Hộ Pháp giáng lâm ra Đà Lạt làm việc. Đức Ngài đã chỉ định địa điểm xây cất Thánh Thất mới theo mẫu số 2 của Hội Thánh, tạm phong Lễ Sanh phái Ngọc cho các chức việc hữu công như Thông Sự Trần Đoài, Phổ Tế Nguyễn văn Lư, PTS.Nguyễn Thâm, CTS.Bùi Thượng Thanh, CTS.Nguyễn văn Chất…Sau khi tham dự khóa Hạnh Đường, Lễ Sanh Ngọc Đoài Thanh (Trần Đoài) được Hội Thánh bổ nhiệm chức Quyền Khâm Châu Đạo Lâm Đồng. Năm 1950, Hội Thánh bổ nhiệm Ngọc Đoài Thanh làm Đầu Tộc Đạo Diên Khánh kiêm Q.Khâm Châu Khánh Hoà. Khi thăng phẩm Giáo Hữu, ông lãnh chức vụ Khâm Châu Thừa Thiên Huế, luôn lo xúc tiến vận động chánh quyền xin cấp đất và xây dựng Thánh Thất và Văn phòng Khâm Châu (nay là Thánh Thất Vĩnh Lợi). Sau đó ông đã được thăng phẩm lên Giáo Sư, được bổ nhiệm Khâm Trấn Đạo liên tỉnh miền Trung Thừa Thiên Huế, đã lập kỳ công độ dẫn được mẹ của vua Bảo Đại là Bà Từ Cung Đoan Huy Hoàng Thái Hậu vào Đạo. Năm Giáp Ngọ (1954), trong một đàn cơ, Đức Lý Giáo Tông đã chấm phái lại cho các ông Ngọc Đoài Thanh, Ngọc Lư Thanh, Ngọc Thanh Thanh từ phái Ngọc sang phái Thượng.

Tình hình đạo sự nơi đây đã phát triển không ngừng và lớn mạnh thêm, giúp phát triển nền Đạo ra các tỉnh miền Trung và Bắc Việt Nam.

Rất may mắn và hữu duyên, năm 1952, Đức Hộ Pháp đến làm việc nơi đây và đã định vị, trấn thần, đặt viên đá đầu tiên xây nền móng Hiệp Thiên Đài Thánh Thất mới Đa Phước theo mẫu số 2 của Hội Thánh. Đức Ngài cũng ra lịnh tuyển dụng các thanh niên nhiệt tình với Đạo như Nguyễn ngọc Châu, Nguyễn xuân Đố, Ba Thọ..đưa về Tòa Thánh Tây Ninh học nhạc, lễ thành lập nên Ban Lễ Nhạc đầu tiên nơi Đà Lạt. Lúc nầy đã có nhiều Tộc Đạo đã được thành lập khắp nơi. Chức vụ Khâm Châu cũng đã lần lượt thay đổi cho phù hợp với tình hình phát triển của công tác Đạo nơi đây.

Năm 1959, Châu Đạo Lâm Đồng được đổi danh thành Châu Đạo Tuyên Đức và ông Giáo Hữu Ngọc Chi Thanh lên làm Khâm Châu Đạo năm 1962. Nữ Khâm Châu là Giáo Hữu Hương Nữ. Lúc nầy, Nam Đầu Tộc Đạo Đà Lạt là Lễ Sanh Thái Bút Thanh và Nữ Đầu Tộc Đạo là Lễ Sanh Hương Nhìn (về sau đắc phong đến phẩm Nữ Đầu Sư).

Vì nền Đạo phát triển quá nhanh, Hội Thánh đã ra Thánh lịnh thành lập Khâm Trấn Liên Tỉnh gọi là Trấn Đạo Tuyên Đức, và Giáo Sư Ngọc Mỹ Thanh là vị Khâm Trấn Đạo đầu tiên của tổ chức nầy.

Sau năm 1975, Giáo Sư Thượng Đức Thanh là Khâm Trấn Đạo Tuyên Đức.

Về việc xây dựng Thánh Thất Đa Phước cũng đã trãi qua nhiều giai đoạn cực kỳ khó khăn. Kể từ khi Đức Hộ Pháp đặt viên đá đầu tiên xây dựng năm 1952 cho đến năm 1956, dưới sự cai trị độc tài hà khắc và kỳ thị tôn giáo của chế độ Ngô đình Diệm, nền Đạo Cao Đài gần như bị cấm đoán. Nhiều vị Chức sắc cao cấp của Đạo bị bắt bớ, giam cầm, thủ tiêu, hay chết trong ngục giam. Đức Hộ Pháp bị âm mưu ám sát nhiều lần và Đức Ngài phải chọn con đường lưu vong xa xứ, xa Tổ Đình, xa tín đồ thương yêu của mình gởi thân nơi đất khách Nam Vang, Cam Bốt. Cuối cùng Đức Ngài qui thiên nơi đây để lại vô vàn đau đớn, tiếc thương cho các tín đồ. Và công cuộc xây dựng Thánh Thất Đa Phước cũng phải bị đình trệ trong hơn 50 năm

Mãi đến ngày mùng 10 tháng 10 năm Ất Dậu (DL: 11-11-2005) sau khi được phép của Hội Thánh tại Tòa Thánh Tây Ninh và giấy phép của Chánh quyền hiện nay, cuộc lễ khởi công xây dựng Thánh Thất đã bắt đầu. Và sau hơn 4 năm vận động tài chánh, kêu gọi nhân công công quả, với sức chiụ đựng phi thường vượt qua vô vàn khó khăn khổ cực, đồng đạo đã hoàn thành ngôi thờ Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng, là THÁNH THẤT ĐA PHƯỚC (ĐÀ LẠT) ngày 19-6 năm Canh Dần (DL: 30-7-2010), là Thánh Thất mẫu số 2 duy nhất của Đạo Cao Đài từ trong nước cho đến hải ngoại. Lễ khánh thành dược tổ chức hết sức trong thể. Có nhiều ngàn Chức sắc, chức việc và đồng đạo, đồng bào khắp nơi trong cả nước về tham dự. Đoàn xe người tham dự đã làm chật kín lộ trình các nơi đến Đà Lạt và các nhà trọ, khách sạn trong thành phố Đà Lạt đã không còn một chỗ trống. Người ta phải ngủ trên vĩa hè, dưới gốc cây, trong xe, trên bãi cỏ cạnh các hồ …để chờ giờ cúng khai đàn vào cúng Thầy. Người địa phương cho biết ngày lễ khánh thành Thánh Thất Đa Phước là một ngày lễ lớn nhất nơi đây trong lịch sử của Đà Lạt. Sau đây là vài hình ảnh và sinh hoạt của Thánh Thất ĐA PHƯỚC (ĐÀ LẠT):

Bên trong Thánh Thất Đa Phước



Ngôi nhà cổ di tích của Đức Phạm Hộ Pháp





Mặc dầu Thánh Thất Đa Phước Đà Lạt là mẫu Thánh Thất mẫu số 2 duy nhứt của Hội Thánh cho phép thành lập, cao đẹp, to lớn chỉ sau Đền Thánh Tây Ninh nhưng chi tiết cấu trúc đã tuân theo y như mẫu thiết kế của Hội Thánh. Thí dụ như cột bên trong, ngoài nơi Thiên Bàn, các cột không khác có trang trí cột rồng quấn và trụ phướn phía trước không có Ngọc kỳ lân và nền bên trong nội nghi không được phép làm 9 cấp..v..v .. Chỉ tại Tòa Thánh mới được phép như vậy mà thôi, vì là Bạch Ngọc Kinh tại thế.

Bên cạnh ngôi Thánh Thất Đa Phước đồ sộ nguy nga tráng lệ còn có ngôi Điện Thờ Phật Mẫu đang trong giai đoạn trùng tu, Ngôi nhà cổ nơi Đức Hộ Pháp ngơi nghỉ, tịnh luyện vẫn còn đầy đủ di vật lịch sử của Đức Ngài khi ra Đà Lạt làm việc, dạy dỗ các tín đồ; và Nhà Thuyền Bát Nhã…Hiện nay, Đà Lạt có 15 Hương với tổng số 2.909 tín đồ, trong đó có 03 Giáo Hữu nam và 01 Nữ; Lễ sanh: 49 (Nam: 18, Nữ: 31); Giáo Thiện: 02 (01 nam, 01 nữ); Hành Thiện: 01 Nữ; Chức việc: 178; Tổng số gia đình có Đạo là: 1.100.

Đứng trước Thánh Thất, vị thế chế ngự từ trên độ cao, hướng mắt nhìn về thành phố Đà Lạt và toàn khu vực với hồ nước xanh thẫm nằm giữa rừng thông bạt ngàn, chúng ta sẽ thấy ngôi thờ Đức Thượng Đế thật uy nghi, bề thế ngự trị toàn cảnh của vạn vật thiên nhiên và con người ở thế gian.

Thật linh thiêng, huyền diệu, đầy cảm xúc và tâm tràn ngập trọn niềm tôn kính!

Là tín đồ Cao Đài, nếu có dịp về thăm Đà Lạt, phải đến viếng Thánh Thất Đa Phước để thấy công trình kiến trúc còn lưu lại nhiều di tích kỷ niệm của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
Hiền Tài Hồ Xưa sưu tầm và biên soạn_______________________________
(Nhân chuyến du lịch về thăm Đà lạt và quê hương năm 2010)

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2021

ĐỢI HAY KHÔNG ĐỢI

  Biết bao nhiêu người thua bởi chỉ một chữ “ĐỢI” trong cuộc đời.

        Tại một ngôi chùa cổ ở Nhật Bản, có một cậu bé mới 9 tuổi tên là Thân Loan (sau này là người sáng lập Chân Tông tịnh độ), quyết định xuất gia đi tìm thiền sư để xuống tóc. Khi gặp được thì vị thiền sư đã hỏi ông rằng:

“Con còn nhỏ thế này tại sao đã muốn xuất gia?”.

        Lúc đó Thân Loan trả lời:

       “Năm nay mặc dù cháu mới 9 tuổi nhưng bố cháu đã qua đời, cháu không biết vì sao con người phải chết, vì sao cháu và bố cháu phải rời xa nhau. Vì thế để hiểu được đạo lý này, cháu nhất định phải xuất gia”.

        Vị thiền sư nói:

        “Được! Ta hiểu rồi. Ta đồng ý nhận con làm đồ đệ, nhưng hôm nay muộn rồi, chờ đến sáng sớm mai ta sẽ xuống tóc cho con!”.

       Thân Loan nghe xong liền nói:

      “Thưa sư phụ, mặc dù sư phụ nói là chờ đến sáng sớm mai sẽ cắt tóc cho con, nhưng con còn nhỏ, con không dám chắc quyết tâm đi tu của con có còn giữ được đến sáng mai không. Mà sư phụ thì đã nhiều tuổi thế này rồi, sư phụ có dám chắc sáng mai tỉnh dậy sư phụ vẫn khỏe mạnh không?”.

       Vị thiền sư nghe xong liền nói:

       “Tốt, tốt! Con nói rất hay! Những gì con nói đều đúng, ta sẽ xuống tóc cho con ngay bây giờ”.

       Vạn vật của thế giới luôn nằm trong sự biến đổi không ngừng nghỉ, con người cũng vậy, không ai biết được tương lai sẽ ra sao? Ngày mai cũng không chắc chuyện gì sẽ đến, có những biến cố bất ngờ trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn cũng có thể khiến ta mất đi ngày mai vĩnh viễn. Vì vậy ngày hôm nay, khi ta muốn làm một điều gì đó hãy bắt tay làm, đừng chờ đợi. Xưa nay, có biết bao nhiêu người thua bởi một chữ “đợi”:

        Đợi đến một ngày nào đó, đợi tương lai, đợi đến khi hết bận, đợi lần sau, đợi khi có thời gian, đợi khi có điều kiện, đợi khi có đủ tiền, đợi cho đến khi không còn duyên phận, đợi đến khi thời thanh xuân trôi qua, đợi đến khi không còn cơ hội, đợi đến khi không còn lựa chọn. Chẳng ai biết trước được tương lai sẽ ra sao, có nhiều việc đợi sẽ thành mãi mãi… đừng để bản thân có quá nhiều nuối tiếc.

        Nhân sinh 5 điều không thể chờ đợi:

1 - Nghèo khó không thể đợi, bởi vì thời gian lâu rồi, bạn sẽ chết vì đói.

2 - Khỏe mạnh không thể đợi, bởi vì thân thể một khi suy kiệt rồi, hết thảy mọi thứ đều vô nghĩa.

3 - Giáo dục không thể đợi, bởi vì cây non mà xiêu vẹo, thì khi trưởng thành rất khó để uốn nắn.

4 - Hiếu kính không thể đợi, bởi vì cha mẹ mất rồi, muốn hiếu kính cũng chẳng còn cơ hội.

5 - Thanh xuân không thể đợi, bởi thời gian trôi qua, có nhiều tiền nữa cũng không mua lại được thanh xuân.

        Cuộc sống luôn ẩn chứa những điều bất ngờ mà bạn khó có thể lường trước. Đời người như bóng câu qua cửa sổ, chỉ thoáng chốc thôi là sinh mệnh đã trở về với đất. Cuộc sống này ngắn ngủi là vậy!

        Cho nên, cần tận dụng thời gian, làm những việc có ý nghĩa mới là quan trọng nhất. Quý trọng thời gian, chính là quý trọng tính mạng của chính mình.

(Sưu tầm từ TQĐ)

       Đọc đến đây, tôi bỗng nhớ đến việc nhập môn trong Đạo Cao Đài. Theo luật qui định, nếu một người nào đó muốn nhập môn vào Đạo Cao Đài làm môn đệ Đức Chí Tôn, người có trách nhiệm ở Cơ quan Hành Chánh Đạo phải lập tức tổ chức buổi lễ nhập môn cho vị nầy ngay, nếu chần chờ đợi có dịp thận lợi hay đợi ngày lễ Đàn mới tổ chức thì lỡ họ qui vị sớm hơn mà không trở thành môn đệ của Thầy thì trách nhiệm thuộc về ai? Khi về Thiêng liêng ai là người nhận hậu quả trước Thầy Mẹ và các Đấng.

        Tài liệu có ghi lại trong lịch sử thành lập Thánh Thất Đa Phước Đà Lạt. Năm 1938, thời gian 12 năm sau ngày khai Đạo Cao Đài, Hội Thánh đã bổ nhiệm Lễ sanh Ngọc Ngọ Thanh (Trần văn Ngọ) từ tỉnh Long An đi lên Đà Lạt nghiên cứu xem có thể nào tìm cơ sở để truyền mối Đạo của Thầy lên vùng đất mới nầy không.

        Lúc bấy giờ, đa số dân sống trong khu vực Tánh Linh và Lâm Viên hầu hết là người từ miền Trung Việt, lên làm công nhân cho Pháp tại các mỏ đá hay sở trồng trà Cầu Đất. Sau đó, vua Bảo Đại ban hành dụ số 10 cấm hẳn việc truyền Đạo ra miền Trung. Tình huống lúc nầy thật là khó khăn cho việc truyền giáo. Lễ sanh Ngọc Ngọ Thanh vừa cầu nguyện Ơn Trên phò hộ, vừa bạo gan đi tiếp xúc với các viên chức địa phương để bộc bạch ý muốn xin được giúp đỡ cho Đạo Cao Đài. Gia đình đầu tiên ông đến là ông Nguyễn văn Chất, Chánh Tuần Kiểm (thường gọi là ông Chánh Cao) và vợ là bà Lê thị Nhân.

        May mắn thay, ông Chất và vợ là bà Lê thị Nhân chẳng những hứa giúp nhiệt tình cho Đạo mà còn muốn xin được nhập môn theo Đạo Cao Đài.

        Khi nghe ông bà muốn nhập môn, Lễ sanh Ngọc Ngọ Thanh liền tổ chức ngay buổi lễ nhập môn ngoài sân với đèn nhang nghi ngút trước nhà của ông bà Chánh Tuần Kiểm. Hai vợ chồng ông đã chân thành quì hứa hướng lên trời cao trước sự chứng kiến của Lễ sanh Ngọ, xin giữ trọn lời minh thệ cho đến chết. Ông Chất về sau được bầu cử vào chức vụ Chánh Trị Sự Hương Đạo Đa Lợi.

         Từ đó, Đà lạt lập thêm Hương Đạo Tân Lạc, ông Chánh Tuần Kiểm giúp lập thêm Hương Đạo Xuân An, rồi hai Hương Đạo nữa được thành lập là Mỹ Thành và Phước Thành. Những ngày Sóc Vọng, đồng đạo khắp nơi qui còn tụ tại nhà ông Nguyễn văn Chất để cúng kiến và học Đạo.

        Thật là huyền diệu thay mà không có chữ ĐỢI/.

Hồ Xưa sưu tầm và bổ túc_________________________________________





Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2022

TRANG THƠ XƯỚNG HỌA : CỨU CÁNH ĐẠO CAO ĐÀI., THANH NHÀN VUI ĐẠO-VTAT.9

 
THƠ XƯỚNG : I/  CỨU CÁNH ĐẠO CAO ĐÀI.

Cứu Cánh người tu phải trọn lòng.
Hiệp cơ Qui Nhứt CHÍ TÔN mong.
Gíáo Dân ,Cứu Khổ, Tâm Nhân Ái.
THẾ GIỚI, Nhân Sanh, Sống ĐẠI - ĐỒNG.
Cửa Thánh, Đài Vân nơi PHẬT MẪU.
Chờ Con MẸ, đặng Thưởng Ân Hồng.
Tâm bền, Chí vững, CHA Ân phước.
Trở gót hồi quê đến Cảnh BỒNG.

Mỹ Nga, 13/06/2022 .ÂL, 15/05/Nhâm Dần.

 HỌA 1 :CỨU CÁNH ĐẠI ĐẠO

Cao Đài cứu cánh hiệp chung lòng,
Phụng sự là đường Thầy Mẹ mong.
Cứu khổ ban vui lòng bác ái,
Khai tâm kiến tánh ý chung đồng.
Ngũ Chi phục nhứt tùng Thiên Đạo,
Tam Giáo qui nguyên kỉnh Phật hồng.
Giữ chánh gìn bi xây Đạo nghiệp,
Đạt thành sở nguyện chí tang bồng.

Từ Nguyên (13/06/2022)

 

Kính Hoạ  2: Tu Nhơn Là Phương Tiện 

Hành  Hỏa Là Cứu Cánh

Chân như Cứu Cánh khắc ghi lòng 
Tín ngưỡng Cao Đài Đại Đạo mong
Áo trắng trinh nguyên nên ý hiệp 
Khăn đen tinh khiết phải tâm đồng 
Tiền nhân, bá tánh thương Âu Mẫu
Quốc tổ, muôn dân nhớ Lạc Hồng
Thờ phượng Chí Tôn đây Chánh Giáo
Năng cầu tất ứng đó Non Bồng 

Mai Xuân Thanh


 

 II/ THANH NHÀN VUI ĐẠO.

Vui mùi Đạo Đức khỏi lo phiền.
Sớm tối kệ kinh sống tự nhiên.
Giáo Lý Thánh Ngôn vui đọc sách.
Tâm không công quả phải cần chuyên.
Rừng Nhu Biển Thánh lo tu tấn.
Học Đạo noi gương Bậc Thánh Hiền.
An phận Tu hành trau Huệ trí, ,
Thung dung an hưởng cảnh Thần Tiên..

Mỹ Nga. 20/07/2022 ÂL, 22/06/Nhâm Dần.

Họa vận 1 :

SỐNG ĐẠO THANH NHÀN

Đạo đức quen mùi lánh não phiền.
Vui cùng kinh kệ lẽ an nhiên.
Thánh ngôn luôn đọc tìm chơn lý.
Thuyết Đạo hằng xem lấy dạ chuyên.
Lập đức dồi dào công quả tấn,
Noi lòng thanh tịnh Thánh Nhơn Hiền.
Thuyền từ sẳn rước đồng sanh khách,
Sống Đạo thanh nhàn tợ cảnh Tiên.

Nam Le (22-07-2022)

Họa vận 2 :

TU HỌC ĐẠO HIỀN.

Tháng năm u uẩn nỗi ưu phiền
Bỗng gặp thơ vàng ý hạo nhiên
Mừng học tu thân dù khổ hạnh
Vội nghe tích đức dẫu truân chuyên
Đạo cao không thuyết du đời giỏi
Trời rộng càng thông xuốt đạo hiền
Bốn cõi tinh hoa, người tích thiện
Địa cầu sáng rỡ quý chư tiên ...
Hawthorne 21 - 7 - 2022
CAO MỴ NHÂN


Họa Vận 3:

VUI MÙI ĐẠO.

Đạo hạnh Càn Knôn khỏi lụy phiền
Tu Tâm dưỡng Tánh sống an nhiên.
Cúng dường chuông mõ nên chăm chỉ,
Công quả bài kinh tất phải chuyên.
Bể Thánh theo thuyền vùng đất Hứa,
Rừng Nhu nối bước chốn non hiền,
Thung dung tận hưởng đời phong nhã.
Yên Phận kỳ duyên ngộ Bát Tiên.
Mai Xuân Thanh. (July -20 -2022)

Ảnh 1:Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh

Ảnh 2 : Thánh thất Đa Phước Đà Lạt

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2022

Vườn Thơ Áo Trắng (14 )

                                  Ảnh : Thánh Thất .Cao Đài Đa Phước-Đà Lạt

 I / ĐẠO ĐỜI TƯƠNG ĐẮC

Bước đường hành sự cõi nhơn gian,
Giúp ích quê hương được thái an,
Giáo hóa nhơn sanh noi đạo đức,
Thương yêu sanh chúng gắng làm lành.
Đạo đời tương đắc cầu lạc nghiệp,
Nhơn nghĩa kết giao tạo phúc sanh.
Tôn chỉ Cao Đài lo cứu khổ,
Tạo nền Thánh Đức Cọng Hòa chan.
LVN (17-09-2022)


Họa vận 1 : Đạo Đời tương đồng:

Cao Đài phát triễn cõi dân gian,
Vọng niệm quê nhà được thạnh an.
Độ thế trần, noi người Thánh thiện
Cho nhân sinh, thấm sắc Sen Vàng.
Tình thương cảm mến thêm hiền thuận,
Nhân ái tâm hoà phủ chứa chan
Đời Đạo tương đồng khơi chí cả,
Bồi chung một gốc vững Thiên ban.

Xuân Linh (19-09-2022)


Họa Vận 2: ĐẠO ĐỜI TƯƠNG ĐẮC.

ĐẠO Đức nâng cao giúp Thế gian,
ĐỜI Thường mộng ảo chẳng bình an.
ĐẠO Tâm phẩm giá Thiêng Liêng trọng,
ĐỜ̀I Gắng lo Tu tích phước vàng.
ĐẠO Hạnh không màng Danh với Lợi.
ĐỜI Tu Nhơn Đạo giử "Tam" Cang..
ĐẠO Khuyên Thường "Ngũ " cho xong phận.
ĐỜI - ĐẠO ĐẮC TÂM Giữ vững đàng..
NTMN 19-09-2022 ( AL24-08 Nhâm Dần)


 II/ THỜI THẾ NGÀY NAY

Thời thế ngày nay đã đổi dời,
Thiên điều hành phạt khắp nơi nơi.
Diệt tàn náo nhiệt phường vô đạo,
Sớm tỉnh hôn mê cảnh tả tơi.
Nhỏ bé trí phàm kình máy tạo,
Cao minh bậc phẩm khó nên ngôi.
Gương xưa khổ hạnh thành vinh hiển,
Sám hối lập công hưởng phước Trời.
LVN (25-09-2022)


 

 III/ GỐC ĐẠO CAO ĐÀI.

Tòa Thánh Tây Ninh là Cội nguồn,
Vun trồng Cội Đạo sởn sơ hơn.
Đơm hoa thơm phức hương lan tõa,
Kết trái hoằng sai giống Quý tường.
Đâu cật thẳng ngay mình tiến tới.
Chung lưng đoàn kết bước đường trường̀.
Chí Tôn định sẳn nền Chơn Giáo,
Nhơn loại ngày sau đến dựa nương.
LVN, 26/09/2022.


HỌA VẬN 1: GỐC ĐẠO CAO ĐÀI LÀ TRƯỜNG THI.

Tòa Thánh là nơi Khảo thí trường,
CAO ĐÀI Gốc Đạo khởi căn ngươn.
Độ người Tâm Chí Hành Thiên Mạng.
Mở Khiếu,Huệ Khai chốn Giáo Đường.
Học hỏi Thánh Ngôn Hành Giáo Lý,
THẦY Dìu Thế Đạo gắng tầm phương.
Lập Công,Lập Đức, nên Thiên Vị,
CÔNG CHÁNH, THƯƠNG YÊU Hưởng Thái bường.
Nguyễn Thị Mỹ Nga, 27/09/2022 ÂL, 02/09/Nhâm Dần.

 

IV / TU ĐỪNG TRÌ HOÃN.

(xướng )

Lụy thế thân mình buộc trái oan.
Phù dung sớm nở kế chiều tàn .
Công danh ví thể lằn tia nhán .
Phú quí như dường bọt nước tan.
Thấy rõ của tiền là giả tạm .
Thì buông vật chất có chi bàn
Tu hành gấp rút đừng trì hoãn.
Trút bỏ mùi đời khỏi vướng mang.

Hồ Thúy Vi


*********
Hoạ vận 1

Đã biêt kiếp người lắm trái oan.
Đời như hoa nỡ vội mau tàn.
Ham mang chức trọng - vầng mây tụ.
Muốn nắm quyền cao - giọt nước tan.
Cứu khốn phò nguy mau góp sức.
Giúp nghèo trợ khó chớ nên bàn.
Xã thân hành thiện vì sanh chúng.
Cám dỗ hồng trần chẳng nặng mang.

HAI NĂNG.


Họa vận 2  :ĐỪNG HẸN

Khách trần lừa đảo tội vay mang
Cuộc sống như hoa nở sớm tàn
Lợi Lộc tham gian như bể cạn
Sang giàu giành giựt tợ sương tan
Trò đời xảo ngữ luôn gây oán
Cỏi thế thị phi mãi luận bàn
Giác ngộ hành tu đừng hẹn hoãn
Lập công bồi đức nghiệp không mang

Tu Thành



Họa vận  3 :MAU THỨC TỈNH

Thân phàm nghiệt ngả bởi dây oan
Mới thấy xuân xanh sớm lụn tàn
Kiếp sống phù du làn khói mỏng
Cuộc đời giống chợ họp rồi tan
Trần gian náo tạm hoài toan tính
Bạch Ngọc vĩnh sanh chẳng luận bàn
Biết gốc rõ căn tìm đến đạo
Nợ nần phủi sạch hết còn mang

Hoàng Út


Họa vận  4 : QUYẾT TÂM HÀNH THIỆN.

Kỳ ba khai đạo giải dây oan.
Phấn đấu học tu kẻo xế tàn.
Cửa đạo vững bền thông chuyển vận.
Thế đời tạm giả hiệp rồi tan.
Của tiền trung thực thời không luận.
Vật chất phân minh sự khỏi bàn.
Tất cả tiện phương làm cứu cánh.
Quyết tâm hành thiện hãy dung mang.

NGUYỄN MIẾNG.



Họa vận 5  : ĐỜI GIẢ TẠM

Dương trần cõi tạm buộc dây oan
Chức tước quyền danh mấy cũng tàn
Biết đạo tu hành lìa tội chướng
Tùng lương cải ác nghiệp lìa tan
Tiền tài ám muội hoài tranh cãi
Lợi lộc đừng mê khỏi luận bàn
Lập đức bồi công đời chuyển đổi
May về hồn phách nợ nào mang

Thúy Hằng


Họa vận  6 : BỂ KHỔ DƯƠNG TRẦN

Ai trần bể khổ buộc dây oan
Sớm nở như hoa tối lại tàn
Kiếp sống bọt bèo thân tựu tán
Cảnh đời ví tợ giọt sương tan
Của tiền hư ảo gây phiền oán
Vật chất buông đi chớ lụy bàn
Lập đức bồi công tìm ánh sáng
Tu hành xóa nghiệp khỏi đeo mang

Thanh Tuấn


Họa vận  6 : TU CHỚ HẸN .

Căn xưa lắm nỗi tạo dây oan
Cuộc sống hôm nay mới lụn tàn .
Sớm biết ăn năn vun dưỡng đức ,
Chiều lo hối cải nghiệp lìa tan .
Phù vân của tạm nào miên viễn ,
Bọt biển trần gian khó định bàn .
Phút khắc trôi nhanh tu chớ hẹn
Quay về cửa Đạo hết vương mang .

Nguyệt Cát .


Họa vận  7 : TU MAU KẼO TRỂ.

Đời hiếp lẫn nhau gây trái oan,
Tu mau kẽo trể tuổi xuân tàn.
Oan khiên nghiệp báo tiền duyên trước,
Phú quý đỉnh chung mây nước tan..
Cương tỏa lợi danh thân bó buộc,
Tu hành Đạo Đức hưởng thanh nhàn.
Khai Tâm, mở khiếu trau giồi Hạnh.
Đời Đạo song Tu dứt nghiệp mang.

Mỹ Nga , 01/10/2022. ÂL,05/09/Nhâm Dần.

Mời Xem :


Thơ Xướng Họa : VƯỜN THƠ ÁO TRẮNG 13

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019

AO BÀ OM (Trà Vinh )

                                            AO BÀ OM
       Ao Bà Om, hay Ao Vuông, là một thắng cảnh độc đáo và nổi tiếng ở tỉnh Trà Vinh, miền Nam Việt Nam, thuộc địa thế của khóm 3, phường 8 thành phố Trà Vinh (trước đây là ấp Tà Cụ, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành), cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 7 km dọc theo quốc lộ 53 về phía Tây Nam. Ao có hình chữ nhật, rộng 300 m, dài 500 m (vì gần với hình vuông nên còn được gọi là Ao Vuông). Mặt nước ao trong xanh và phẳng lặng được phủ bởi hoa sen, hoa súng. Ao được bao bọc xung quanh bởi các gò cát mấp mô với các hàng cây sao, cây dầu cổ thụ hàng trăm năm tuổi có rễ nổi lên khỏi mặt đất tạo nên những hình thù hấp dẫn, kỳ lạ.


                    


      Vị thế của Ao Bà Om trong việc thu hút khách du lịch là ao không nằm tách biệt riêng lẽ mà bên cạnh ao còn có ngôi chùa Khmer cổ nhất Trà Vinh, được gọi là chùa Âng, đây là ngôi chùa Khmer cổ nhất Việt Nam. Theo truyền thuyết chùa được xây dựng vào năm 990 tức cuối thế kỷ 10, hình thể độc đáo và hài hoà với cảnh sắc thiên nhiên. Tại đây, cũng như hàng trăm ngôi chùa Khmer khác ở Trà Vinh, người ta hành lễ vào tháng 8 Âm lịch theo ba bước.
     - Bước thứ nhất gọi là Kan-banh, bắt đầu từ ngày 1 đến ngày 14. Bà con đem đồ cúng vào chùa để các nhà sư làm nghi thức lễ hội. Ngày cuối cùng của Kan-banh, mỗi gia đình đều gói bánh tét, bánh chuối, bánh ít để cúng chùa, cúng ông bà và tặng những người thân thích.
     - Bước thứ hai, đúng vào ngày Rằm tháng 8 Âm lịch, gọi là Phchubanh. Người ta chuẩn bị rất chu đáo các lễ vật đem lên chùa. Đến trưa, sau khi dâng cơm sư sãi, họ làm lễ rước vong hồn linh thiêng của ông bà, cha mẹ về nhà để gần gũi con cháu.
     - Bước thứ ba là lễ cúng đưa. Bà con dọn cơm cúng, khấn vái xong, để thức ăn đồ uống vào chiếc xuồng làm bằng bẹ chuối thả xuống mương rạch gần nhà để ông bà đem theo. Sau đó, mọi người tiếp tục vui chơi. Ngoài ra, Bảo tàng Văn hóa Khmer cũng được đặt tại đây.
       Quần thể bộ ba Ao Bà Om, chùa Âng, Bảo tàng Văn hóa Khơ me được xác định là địa điểm du lịch hàng đầu trong chiến lược phát triển du lịch của tỉnh Trà Vinh trong thời  gian tới.

                  Hình ảnh Ao Bà Om Trà Vinh - Trà Vinh


      Theo truyền thuyết, để có hồ nước ngọt dùng trong mùa khô, dân làng người Khmer tổ chức cuộc thi đào ao giữa hai nhóm phái nam và nữ đồng thời cũng để quyết định phái nào thua sẽ phải đi cưới hỏi phái kia. Bên phái nam ỷ sức mạnh, vừa làm vừa chơi. Bên phái nữ dưới sự lãnh đạo của người phụ nữ tên Om, dùng nhiều mưu mẹo để trì hoãn nhóm nam. Khi đào gần xong, họ còn cho thả đèn lồng ở phía đông làm cho nhóm nam tưởng là sao Mai đã mọc nên nghỉ sớm. Sau cuộc thi, nhóm nam thua cuộc và ao của họ hiện vẫn còn dấu tích tuy đã cạn nước. Ao của nhóm nữ được đặt tên theo tên của bà Om.
      Ngày nay Ao Bà Om thường được các học sinh sinh viên chọn làm nơi cắm trại vào những dịp lễ hay lúc nghỉ hè. Đây cũng là nơi hẹn hò của nhưng đôi nam nữ cũng như là nơi các cặp vợ chồng mới cưới đưa nhau ra chụp hình quay phim lưu niệm.
      Gần ao có chùa Âng (Chùa Angkorajaborey) là ngôi chùa Khmer cổ nhất Việt Nam theo truyền thuyết được xây dựng vào năm 990 tức cuối thế kỷ 10, độc đáo và hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên.

      Cảm giác đầu tiên khi tới thăm Ao Bà Om là sự mát mẻ trước cảnh trời nước xanh biếc một màu. Hai hàng cây phía ngoài và sát cạnh ao cách nhau một khoảng rộng, tạo thành con đường rợp bóng. Cây lá dưới nước xanh rờn như đua sắc với trời thu. Ao có hình chữ nhật, rộng 300m, dài 500m (vì gần với hình vuông nên còn được gọi là Ao Vuông). Mặt nước ao trong xanh và phẳng lặng được phủ bởi hoa sen, hoa súng. Ao được bao bọc xung quanh bởi các gò cát mấp mô với các hàng cây sao, cây dầu cổ thụ hàng trăm năm tuổi có rễ nổi lên khỏi mặt đất tạo nên những hình thù kì lạ. Người  đời  sau  đã  đưa  ra  nhiều giả  thuyết  để  giải  thích  về  tên  gọi của địa danh này.
      Cũng giải thích cho tên gọi Ao Bà Om  còn  có một  câu  chuyện truyền đời khác là:  - Xưa kia, có một vị hoàng tử rất độc ác trấn nhậm vùng đất Trà Vinh, bắt dân chúng phải dâng gái đẹp cho ông ta, ai bất tuân sẽ bị trừng trị nặng. Vị  hoàng tử này buộc phụ nữ phải đem lễ vật đi cưới đàn ông. Một  hôm, có một  cô  gái  xinh  đẹp đến gặp hoàng tử để bày tỏ sự phản đối về tập tục bất hợp lý này. Vì bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp của cô gái nên hoàng tử muốn làm vừa lòng người đẹp, vừa muốn xóa bỏ tập tục mình đặt ra bằng cách cho mở một cuộc thi đào ao. Sau đó mọi chuyện diễn ra như chuyện kể trên. Người con gái xinh đẹp đó có tên là Om. Và từ đó, địa danh ao nầy được lấy tên Ao Bà Om.
                                Thơ:
                                                            AO BÀ OM
                                 Kỳ quan dạ thảo mọc từng ngòm,
                                               Ruộng cấy đàn cò rĩa cá tôm.
                                               Cảnh bụt êm đềm ngày nắng ấm,
                                               Thiều quang giá lạnh cảnh chiều hôm.
                                               Đìu hiu lặng lẽ hương thôn vắng,
                                               Động nước lang thang cá há mồm.
                                               Nghỉ mát nhàn cư du ngoạn xứ,
                                               Nơi đây thắng cảnh đẹp Bà Om! 
                                                                                        Xi Cà Que
                                         HỌA: AO BÀ OM
                                   Dạ thảo kỳ quan chiếu sáng ngòm,
                                              Bóng cò thơi thả kiếm tìm tôm.
                                              Lưng trời mây trắng lung linh sáng,
                                              Sóng thẹn ao vèo gợn bóng hôm.
                                              Lặng lẽ bờ ao chim đứng đợi,
                                              Buồn hiu gốc trúc thỏ nhe mồm.
                                              Trà Vinh mơ tưởng miền quê Việt,
                                              Nhớ quá ao nhà nhớ tiếng “Om”!
                                                                        
HỒ NGUYỄN (12-02-19)


Hồ Xưa sưu tầm tư Wikipedia_______________________________________

Xem Thêm : THÁNH THẤT ĐA PHƯỚC (ĐÀ LẠT)

TRÀ NGUỘI -Thơ kiều Mộng Hà và Thơ Họa

TRÀ NGUỘI Chớp mắt còn chi!!! Tiệc đã tàn Cố quên vết xước của thời gian Người đi trà nguội tình sương khói Bướm vắng hoa tàn mộng dở dang N...