Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn khuất Đẩu. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn khuất Đẩu. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 11, 2021

Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 14) – MỘT MÌNH QUA PHỐ

Sài Gòn ngày trở lại – Tranh: Thanh Châu

Bốn chữ này tôi mượn của Trịnh Công Sơn, không phải để âm thầm nhớ nhớ tên em nào, mà để nhớ lại một thời để yêu và một thời để chết.

Đó là thời của những năm sáu mươi, bảy mươi, thời của hai mươi năm nội chiến từng ngày, thời mà nằm ngủ trên giường, ngồi quán cà phê hay đi xe đò cũng chết huống gì ra mặt trận.

Thời đó, những người con trai mới lớn, vừa bước chân vào đời đã phải đối diện với cái chết, thì tổ quốc, tương lai…chỉ là những tên gọi mơ hồ, tuyệt vọng… chỉ có em, chỉ có tình yêu dù đơn phương, mới là tất cả.

Em là chút mầm xanh của cây đời đang gãy đổ. Em là đóa hoa súng trên mặt hồ lạnh lẽo. Em mong manh, nhưng quý hóa biết chừng nào.

Thì đúng là may mà có em, cuộc đời mới dễ thương, nếu không, Vũ Hữu Định trên đường ra biên giới khác nào tử tội ra pháp trường.

Một mình, đương nhiên là chỉ một người. Nhưng không phải một mình trên đường lớn rất triết của Tô Thùy Yên, cũng không phải một mình đứng giữa quãng chơ vơ  rất cô đơn của Trần Tế Xương. Lại càng không phải một mình mình một bơ thờ vịn cây cây ngã vịn bờ bờ xiu rất tuyệt vọng như trong ca dao.

Một mình qua phố, tuy mình ên, nhưng rất xôn xao vì còn có tên ai đó để nhớ, còn có ai tan trường về để lầm lũi bước theo sau.

Một mình có thể là anh học trò nghèo bụng lép kẹp nhưng hồn đầy mộng mơ, có thể là nhà tu dù đã tu qua chín kiếp nhưng vẫn chưa rũ hết mùi tục lụy, cũng có thể là một cô học trò lãng mạn đang fall in love viết nên bài thơ này:

 

Tôi đi trên đường nắng

Thương những buổi trưa vàng

Những bờ hoang xa vắng

Đôi tâm hồn lang thang

 

Kiếm tìm trên lối ngõ

Bàn chân yêu thương qua

Nhà ai in ngói đỏ

Trời xanh ôm mái nhà*

 

Chữ phố, đứng một mình, không có thành, không có khu  phía trước, cũng không có vắng có xa phía sau, rất trơ trọi, nhưng có thế phố mới trở nên thân quen ấm áp. Phố bỗng trở thành một người bạn cùng bước song hành để cho ta rù rì tâm sự.

Mặc dù xe ngựa ồn ào, kẻ đi người lại bon chen, ta vẫn thấy phố thật vắng, thật yên, phố vẫn đi theo ta lặng lẽ như bóng với hình.

Kìa là những cột đèn, những ban công, những mái lầu, rồi tháp chuông và trên cao là mây trắng…

Phố có mùi hương, có thể là của hoa dã quỳ vàng rực, có thể là của hoa ngọc lan đài các, hay hoa sữa nồng nàn, và nếu trời đang mưa, ta có thể nghe ra mùi của hương nước mưa mát lạnh.

Vì đi chỉ để mà đi, cần gì phải ngang qua những con phố sang trọng với cửa hiệu sáng choang, hàng hiệu đắt tiền hay những ba những bảy xập xình…

Thế rồi, trên những con phố nghèo, bỗng dưng dưới một mái hiên hay một khung cửa nào đó, e ấp một mái tóc nghiêng nghiêng, mộng mơ một đôi mắt đuôi dài, thì dù lộn xộn, dù nhếch nhác đến đâu, ta vẫn thấy con phố bỗng trở nên giàu có sang trọng và sao mà nó lại sạch sẽ thơm tho đến như vậy.

Từ đây con phố có linh hồn, và ta bỗng trở nên chàng thi sĩ có thể làm thơ dù là thơ con cóc.

Vậy đó, cứ thế lửng thửng mà đi, vô tình mà bước, không cứ gì phải tìm ai, gặp ai, cứ đi như sông là phải chảy, mây là phải bay và mưa là phải rơi xuống.

Cái thời mới lớn của tôi đó, nó nhà quê, nó cả ngố làm sao! Nhưng dù đã xa thật xa, tận cùng trong quá khứ nhạt mờ, tôi vẫn thấy cậu ta bước đi chân không hề mỏi, mắt nhìn đâu đâu, tưởng chừng như đang lạc bước vào chốn thần tiên. Và khi trông thấy con gái bay nhiều quá, những cánh tay mềm như cánh chim**, cậu tưởng chừng cũng sắp bay lên. Ôi chao cậu muốn được ôm tất cả vào lòng chứ không chỉ  một riêng ai.

Tham lam quá phải không, nhưng có như vậy mới đáng để cậu ta một mình qua phố chứ.

 

26/9/2019

Khuất Đẩu

* thơ của Nguyễn thị Hoàng

** thơ của Hoàng Trúc Ly

 

 Mời Xem Khuất Đẩu :

 Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI – TÌNH GIÀ

 

Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2023

Khuất Đẩu: TIẾNG RAO ĐÊM

Trời hiu hiu lạnh, mưa bay lất phất, giữa phố khuya bỗng vang lên: “Ai “dít”… lộn không?”

Tiếng rao nghe thật ấm áp.

Nhưng vì âm thanh đi trước mà chân theo sau rất chậm, nên một lúc sau mới thấy chị bán hột vịt lộn tới.

Đó là một chị ăn mặc sạch sẽ gọn gàng. Chị đặt thúng xuống trên hè phố, hỏi mấy trứng? Đáp, “Vài trứng, ăn thử xem sao?”

Chị liền bày ra trên đĩa nào khế xanh, xoài, rau răm và muối tiêu, rồi mới moi trấu lấy ra những chiếc trứng nho nhỏ xinh xinh bày lên một đĩa khác.

Khách cũng ngồi xuống cạnh chị, thân mật như người nhà, vừa ăn vừa nói đủ thứ chuyện. Có người bảo: Tao quen một thằng Phi, nó nói món này là sang nhất ở xứ nó. Một người khác nói: Tao thích nghe tiếng rao chứ không thích ăn. Nó chưa biết kêu chíp chíp đã bị luộc chín, tội quá. Mày theo đạo Phật à? Không. Nhưng đêm nghe tiếng rao hàng, cũng đỡ buồn. Tao thích giọng rao Sài Gòn, nó dịu nhỉu, ngọt xớt, tiếng “hôn” nghe thật nũng nịu. Người khác nói: Tao thích giọng Quảng, ơ…ơ…/ eng eng nghe rất ngộ. Một người bỗng nói lớn; tao sợ nhất giọng Huế, cái gì mà dí…..t mãi rồi mới “lộn”, nghe cứ tưởng dít cái đó lại, ai không sợ.

Cả bọn cười ầm, kể cả chị bán hàng. Món quà khuya chỉ tốn vài chục bạc. Đây là thời kỳ dễ sống nhất của nửa thế kỷ trước. Cái gì cũng rẻ, kể cả xương máu!

Cũng những đêm se lạnh, dưới những ngọn đèn đường vàng vọt, thành phố đang ngủ bỗng vang lên: phở! Chỉ một tiếng thôi, không dài dòng “ai ăn phở không”? Giống như ai đang ném một cục đá xuống ao, nghe một cái “chũm”. Không phải tiếng rao hàng nhỏ nhẹ như hột dít lộn, mà cộc lốc như tiếng quát, thế mà đâu đó lao nhao có tiếng gọi: phở ơi, vào đây!

Người bán đạp xe tới, một chiếc ba gác lỉnh kỉnh đủ thứ với một thùng nước lèo to tướng.

Phở xe là phở nghèo nhất. Cơ nghiệp của họ chỉ vài ký bánh phở, một ít thịt tái, chín, vài chục củ hành. Nghèo nhưng chính gốc Bắc di cư, nên không có pha trộn thêm gì. Mỗi bát chỉ có 5 đồng, nên chỉ có vài miếng thịt, xắt đã mỏng lại còn trở dao đè xuống cho mỏng thêm, một ít cọng phở khô chần nước sôi, một củ hành và một vá nước lèo, thế là xong. Bao nhiêu củ hành là bấy nhiêu tô, nên khách không có chuyện xin thêm nước lèo hay hành củ.

Ăn phở, phải là phở khuya, đường thì vắng, đèn thì mờ, lắc rắc vài giọt mưa, đứng cạnh thùng nước lèo, thế mới ngon. Ta vừa ăn vừa hít hà, cảm nhận cái mùi vị rất đặc biệt chỉ riêng nước lèo mới có. Nó có mùi thịt, mùi mỡ, mùi của tủy xương của gân sụn. Mỗi gánh có cách nấu riêng. Được giữ bí mật như mùi coca cola!

Phở khuya, ăn một mình đã ngon vì bụng đói và trời lạnh, ăn hai mình lại càng ngon hơn nữa. Cặp tình nhân nào mà ghiền phở khuya, chắc rất khó mà xa nhau. Hương vị của phở càng làm cho hương vị tình yêu thêm nồng nàn. Có biết bao là kỷ niệm đáng nhớ. Nào là cái mặt đáng ghét, sao cứ chòng chọc nhìn vào “người ta” vậy? Sao đi lên đi xuống hoài không mỏi chân à? Rồi mời nhau một ly nước mía. Đến khi mời nhau ăn phở thì à há, té ra mình yêu nhau rồi!

Phở đáng yêu như vậy đó. Nhưng cũng có nhiều người khổ vì nó. Như Nguyễn Tuân, tùy bút “phở” của ông còn hay hơn cả “vang bóng một thời”, nhưng ông lại bị “đánh tơi tả”. Chỉ vì cả nước đang đánh Mỹ mà ông lại ngồi rung đùi nhớ tới phở ở một nước tư bản đang giãy chết!

Nhưng, dù sao ông cũng được ăn đủ loại phở, từ gầu, tái nạm, đến cả phở gà phở heo, chỉ tội cho Quang Dũng, mãi đến khi vào Đà lạt mới được biết đến phở “có thịt”. Nghe nói, trong cái lạnh của xứ ngàn thông, có người ái mộ mời ông một tô phở, vậy mà phải mất hơn nửa tiếng, ông mới ăn hết.

Chẳng phải vì răng ông chiếc rụng chiếc lung lay, cũng không phải tô phở to tổ chảng như ở Mỹ, mà vì ông nghẹn ngào nuốt không trôi. Gắp một miếng thịt tái tưởng như gắp ra từ cuộc đời tan nát của chính mình. Cắn đứt sợi phở tưởng đâu cắn đứt từng khúc ruột của bạn bè đang nằm rải rác đâu đó ở biên cương.

Hỡi ơi, ở dưới mộ sâu chắc ông vẫn còn thấm thía cái hèn của bọn Lý toét Xã xệ trong chốn văn chương.

Giờ, rất khó tìm một chiếc xe phở len lỏi trong các con phố nghèo. Hột vịt lộn cũng không còn ai đội thúng đi lang thang nữa. Phố đêm trở thành phố ngày nối dài, xe cộ vẫn chạy ào ào, người ta vẫn ăn, nhưng ăn trong các tiệm có đầy đủ ghế bàn, thùng nước lèo vẫn bày ra trước cửa, bốc hơi nghi ngút. Phở tái, phở chín vẫn còn, nhưng nếu gọi hủ tiếu, mì quảng, ngay cả bún bò giò heo vẫn có… và vẫn chỉ một thùng nước lèo ấy thôi.

Thế là phở đã chết, hay đã biến dạng. Chưa kể phở còn leo lên những tòa nhà cao ngất, có máy lạnh, có gái đẹp bưng bê và nấu bằng thịt bò Kobe hay của Úc!

Thì thôi, đành nằm nghe tiếng con thằn lằn tắc lưỡi. Có lúc lơ mơ tưởng mình là con thằn lằn, nằm nhớ tiếc một thời xưa cũ đã qua!

Khuất Đẩu

4/6/2023

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2019

Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI – TÌNH GIÀ


Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong khi bàn về cái gọi là già sao cho sướng, có đưa ra một lời khuyên: hãy bắt chước ông già lấy le bà già/ chiều chiều dắt ra bờ sông. Lãng mạn thật đấy! Nhưng hai người cũng sẽ rớt xuống sông là cái chắc. Xe cấp cứu sẽ hú còi inh ỏi và thiên hạ sẽ xầm xì rằng, đã già mà sao còn dại!
Dù được thân thiết gọi là bạn già, nhưng tôi chẳng dám đâu. Hãy để cái chuyện dắt ra bờ sông dành cho nhà văn Kiệt Tấn, thưở 17, đã cùng một em tên Tuyết lăn lóc đến nỗi rớt xuống sông (ướt cái quần ni lon) mà vẫn tỉnh queo đèo vespa đưa em về nhà, dọc đường còn tí tởn yêu nhau chút chút.
Vẫn bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc kể lể rằng, nhà âm nhạc học Trần Văn Khê, ở thì tít trên tầng cao của một chung cư, mà ăn thì lấy cơm từ trong tủ lạnh ra hấp trong lò điện, mặc dù tiếng tăm lừng lẫy nhưng giữa lòng Paris hoa lệ mà sống quạnh hiu như vậy, rất là đáng thương.
Nhưng bác sĩ Thân Trọng Minh lại bảo, tuy vậy,  ông vẫn sống rất hạnh phúc vì cuối đời còn có một người yêu ông. Chỉ vào bức ảnh nằm lọt thỏm giữa những chồng sách đụng tới trần nhà, bậc trưởng thượng bảo rằng, đây là mối tình già của hai người, bà yêu ông từ lâu nhưng chỉ sống với ông được vài tháng, rồi mất vì bệnh ung thư. Đương nhiên ông yêu bà không phải vì tóc em ướt mắt em ướt mà vì bà là kẻ tri âm, và hơn thế nữa, ông đã có những bữa ăn với cơm nóng canh sốt rất ấm áp nghĩa tình.
Thưở còn lang thang, có một dạo tôi sống với một đôi vợ chồng già ở Tùng Nghĩa. Hai người không con cháu, sống trong một căn nhà gỗ ọp ẹp tận bìa rừng xa hút.
Ông trước kia, con một điền chủ ở đồng bằng Bắc bộ, theo lời bà, chỉ có mỗi một việc là ăn và chơi. Còn bà là con một vị quan đầu tỉnh ở Thanh Hóa, mẹ mất sớm, rất được cưng chiều.
Những lúc rảnh rỗi bà kể, ông nhà tôi ngày trước ghen đáo để. Được bố mẹ chồng mua cho một căn phố, tôi ra đó nấu cơm tháng. Có một anh làm quan huyện còn trẻ đến ăn, thế là ông uống rượu rồi thuê xe kéo chạy quanh suốt buổi, đợi khi anh ta đến, ông bảo phu xe dừng lại trước nhà, rồi nằm gác cẳng lên mà nhìn vào. Anh quan huyện hoảng quá không đến ăn nữa và tôi cũng dẹp tiệm luôn.
Khi di cư vào Nam, nhất định không chịu sống ở thành phố, bảo rằng đến đâu cũng phải bỏ giày dép ngoài cửa, mất tự do, nên mua một cái rẫy và chôn chân từ đó đến giờ.
Bà cụ hồi ấy 60, hơn ông những 6 tuổi, vẫn đẹp ngời ngời và rất mực quý phái, khi đi ăn cưới, trang điểm vào trông như người 40, nhưng ông cụ không ghen nữa, chỉ đứng ngắm vợ và cười.
Cái mối tình vừa già vừa nghèo ấy, tình không ở đầu mày cuối mắt mà là ở những bữa ăn, đúng hơn là những bữa nhậu. Gọi là nhậu, chứ thực ra chỉ có nửa góc chai rượu, nửa trái cật hay vài trái chuối già, được bà chế biến rất khéo. Ông ngồi nhậu một mình, thỉnh thoảng hát chèo và đánh trống miệng thì thùng.
Bà tôi, cũng yêu ông tôi bằng cái bánh tráng nướng, mấy miếng bánh hỏi mua về cho ông sau khi bán được cau, chuối trong vườn. Trong những đêm đông lạnh, chẳng những bà nhường cho ông tấm mền duy nhất trong nhà, mà còn đốt than ủ tro lót dưới gậm giường cho ông nằm. Khi còn sống bà thường càm ràm ông để râu nhúng vào canh và hay bỏ quên khăn ở nhà người khác khi đi chúc Tết.
Vậy thì, xem ra cái tình của những người già ở xứ mình, nhất là những người đã thuộc về người của muôn năm cũ, nó tĩnh đến nỗi tưởng chừng họ là những kẻ xa lạ, chẳng những đã không lấy le đưa nhau ra bờ sông mà cũng chưa hề thốt ra một lời nào âu yếm. Chỉ có cằn nhằn và cằn nhằn!
Không như ở Mỹ sáng ông I love you, bà me too, rồi chiều có thay đổi chút ít, bà I love you và ông me too! Ở mình mà ỏn ẻn như vậy thế nào cũng bị mắng cho “biết rồi! khổ lắm! nói mãi!”
Bồ Tùng Linh có viết một truyện với cái nhan đề tình già, rất ngồ ngộ như sau: có một ông cụ nọ chết đi chưa kịp chôn đã sống lại, hỏi sao, cụ bảo trên đường xuống âm phủ, nghĩ thương bà vợ già, sống lủi thủi với đám con cháu, thế nào chẳng bị chúng nó tiếng nặng tiếng nhẹ, buồn lắm!. Thế là đòi quỷ dẫn về và gọi vợ ra cùng chết. Cả nhà ai cũng che miệng cười, bà cụ thì mắc cỡ vì trước mặt con cháu mà lại nằm chung giường với chồng coi sao được. Nhưng thấy ông cụ nghiêm sắc mặt, đành phải nằm kế bên. Thế là xuôi tay đi luôn.
Hóa ra, cái chữ tình của người già ít nhiều đều gắn với cái chết. Sống bên nhau mà bảo là oan gia, nhưng khi một người chết đi, người còn lại mới thấm thía thế nào là cái lẻ bóng.
Thật khác xa với cái xứ Macondo ở Nam Mỹ. Có
một ông già đã 90 tuổi, ham sống đến nỗi muốn rằng, trong đêm sinh nhật thứ chín mươi của mình phải là một đêm nhớ đời với một em hãy còn trinh. Và nhà chứa đã cho ông qua đêm với một con bé mà theo lời bà chủ, là hãy còn mang tã lót. Thấy cô bé có dáng nằm của đứa bé còn nằm trong bụng mẹ, đang ngủ say vì được bà chủ cho uống hợp chất đồng với lá cây gì đó để em khỏi hoảng sợ, thế là ông không hề động đến, chỉ hát ru cho em ngủ. Sau nhiều đêm như thế, ông mới nhận ra rằng dù đã chung giường với hơn 500 người đàn bà, nhưng ông chỉ ăn bánh trả tiền chứ chưa hề biết đến tình yêu là gì. Giờ ông mới thực sự yêu em, biết ghen tuông như trai 17 và nguyện đem hết của cải và những ngày còn lại để làm cho em hạnh phúc.
Ở xứ mình mà còn sung đến thế sẽ bị mắng cho là già mất nết, hay già dịch, già dê.
Mà thôi, nói chơi vậy thôi, chứ già cúp bình thiếc như tôi mà nói tới chữ tình, nó lụp cụp giống như nhai bắp rang vậy.
Khuất Đẩu

Khuất Đẩu  do Đinh Cường vẽ theo trí nhớ


10/2019

Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014

Nam mô chiếc áo cà sa - Khuất Đẩu

Khuất Đẩu - Nam mô chiếc áo cà sa!
Truyện ngắn của Khuất Đẩu
Ngôi chùa ấy lợp tranh. Như thế đủ biết chùa nghèo lắm. Chùa lại nằm giữa một xóm còn nghèo thảm hại hơn. Những mái tranh xiêu vẹo, những tấm tôn rỉ sét, những tấm bạt cũ kỹ. Một mớ xệch xạc nằm chênh vênh cạnh một con đập đắp bằng lá. Cứ như một đám rác lều bều để lại bên bờ sau những cơn lụt.
Nhưng chùa có nhiều tượng Phật bằng gỗ. Tượng lớn to bằng trái bầu. Tượng nhỏ như trái chuối. Đen thui như bới từ trong đống than ra. Dễ chừng có đến hàng trăm tượng. Trước ngày Phật Đản, một chú tiểu nhỏ như cây tăm xỉa răng, lùa hết các tượng trong một cái thúng đem xuống sông tắm rửa. Chú dùng rơm kỳ cọ như các bà rửa xoong nồi. Vì thế có nhiều tượng sứt môi, gãy mũi. Sư cụ biết vậy nhưng cũng chẳng dám quở mắng. Chú chỉ là một đứa bé mà cha mẹ ép tới chùa để bớt đi một miệng ăn, chứ không phải nhất tâm thành chánh quả. Nhỡ chú buồn bỏ đi thì biết cậy nhờ ai trà nước, thỉnh chuông.
Có mỗi câu kinh học mãi cũng không thuộc, lại mắt nhắm mắt mở, nên tiếng chuông của chú cứ cà gật, cà gật. Mặc dù ở bên sông nhưng nó không đủ sức ngân nga để làm sực tỉnh một nhà thơ như chùa Hàn Sơn ở bên Tàu. Dù vậy có tiếng chuông vẫn hơn. Chùa mà không có tiếng chuông sao gọi là chùa.
Nhưng đó là những đêm về sáng, còn đầu hôm công phu chỉ mỗi mình sư cụ. Tuổi già sức yếu, cụ chỉ tụng có mỗi một bài kinh. Hơi thở ngắn, tay lại run nên người ta chỉ nghe thấy tiếng è è cùng tiếng mõ khành khạch như tiếng thở của một người bị bệnh hen và tiếng nấc của một người mắc chứng nấc cụt nằm cạnh nhau trong một đêm khó ngủ. Nhưng dẫu sao, đó cũng là những âm thanh dễ chịu giữa những tiếng ầm ĩ vợ chửi chồng, cha mắng con, tiếng cãi cọ của đám bầu cua cá cọp, tiếng hú hí cười cợt của đám đĩ rạc bị công an rượt đuổi ở thành phố đã trôi dạt tới đây.
Nhiều người ái ngại, lên tiếng chê trách. Ban hộ tự đâu, mà để chùa xơ xác như thời mạt pháp vậy? Nhưng chỉ dăm bà già ốm yếu, nghểnh ngảng đến chùa nhiều khi quên mất đường về nhà, thì đào đâu ra ban hộ tự! Người ta cũng chẳng mấy khi mời sư cụ đến nhà tụng kinh cầu siêu gia đạo hay cầu hồn. Mà nếu có, cụ cũng chỉ uống chén nước trà rồi về chứ không hề nhận một đồng công đức. Chùa như thế nghèo là phải lắm.
Sư cụ, gầy nhom như một con muỗi đói. Nói thế hơi hỗn, nhưng trông cụ gần như cái xác ve, chẳng có một hột máu nào. Ấy là bởi cụ thường nằm ngủ gối đầu lên một cái trống tum. Mà trống bị bể, cụ lại kiêng sát sinh nên bao nhiêu rệp của cả xóm đều kéo tới. Đương nhiên chúng không phải đến để nghe kinh, mà để hút máu cụ cho đến phễnh bụng ra rồi chui vào trống ngủ. Chúng càng béo tốt thì cụ lại càng gầy ốm.
Một hôm thằng bé nghịch lấy cây gõ lên mặt trống. Trống không kêu. Gõ nhiều lần cũng chỉ nghe cành cạch. Nó bực mình ném xuống đất. Trống vỡ toang. Một đám rệp căng tròn như đậu đen văng ra khắp chùa. Nếu đếm được, dám đến cả triệu con.
Dù phải hốt hoảng trốn chạy, nhưng rồi đâu cũng vào đó, không còn trống thì chúng lại chui vào kẹt ván, vào vạt giường, vào áo quần, ngay cả chiếc áo cà sa treo trên vách. Chúng vẫn cứ nhởn nhơ ăn, ngủ, rồi sinh sôi nảy nở cái giống nòi mà không hiểu thượng đế sinh ra làm gì khi đã có cái giống thượng đẳng là loài người.
Chùa nghèo chẳng ai buồn biết tới. Sư cụ ốm cũng chẳng ai hay. Nhưng cái sự vụ mà tôi sắp kể ra đây xứng đáng được coi như tiếng nổ giữa trời quang. Một tiếng nổ hất tung mọi sự và đổi thay biết bao số phận.
Đó là một buổi tối cuối tháng giêng khi cái máu ăn chơi của người mình, càng nghèo lại càng chơi, vẫn còn hừng hực: những quán cóc vẫn không ngớt dô dô, mùi thịt nướng (chẳng cần biết thịt gì, hễ cứ nướng là thơm) vẫn cứ bay ngào ngạt và các ả bán thịt người đắt khách đến nỗi không cần phải ra chào mời tận ngoài đường. Một buổi tối như thế trên quê hương tôi, khiến sư cụ nằm trên chiếc võng rách lơ mơ muốn ngủ mà không ngủ được.
Đương nhiên là vì rệp cắn. Mà cũng đương nhiên vì cái đạo hạnh của cụ chưa đủ đức độ cảm hóa cái cõi ta bà nhỏ bé kia. Cửa chùa vẫn cứ rộng mở nên bao nhiêu âm thanh và mùi vị cứ như nước lụt tràn vào. Chuông thì rè, mõ thì bể. Mà dẫu cho không rè, không bể, dẫu có hàng chục cái chuông, mõ, kể cả trống, cũng không át nổi cái cơn cuồng say của cả xóm. Chỉ có cây đũa thần mang phép nước, tục gọi là cây gậy của công an, mới mong có thể dẹp yên được.
Thì đúng là cầu được ước thấy, vì ngay lúc đó sư cụ nghe tiếng tu huýt, cùng tiếng chân chạy rầm rập, tiếng hô bắt lấy nó, tiếng tru tréo không phải tui đâu, tui đâu có làm đĩ, tiếng van xin nịnh nọt, thôi mà sếp, tha cho em lần này… Và chỉ đúng một khắc, tất cả đã trở lại cái trật tự đìu hiu, cái buồn muôn thủa của xóm nghèo. Lại nghe tiếng nước chảy rì rầm qua đập, tiếng giã bột bún thình thịch, tiếng các bà vợ chì chiêt chồng con. Chỉ thiếu có tiếng chuông, vì chú tiểu nhỏ mãi mê chạy theo coi đám con gái quần áo sáng ngời, bị công an còng tay dẫn đi.
Đó là nghe.
Còn thấy, thì Giời Phật ơi, có cái gì trăng trắng lao vào chùa, như một cái gối ôm bị ai quẳng vào chánh điện, nơi có đến hàng trăm tượng Phật sắp hàng ba trên bệ nhìn xuống. Ừ, thì cứ cho là cái gối ôm đi, nhưng là một cái gối ôm có tay dường như đã nhăm nhe từ trước, nên giống như một con cò mổ ruồi, nó phóng tới đúng chóc chiếc áo cà sa đang treo trên vách; rồi loáng một cái, nó cuộn tròn vào mình, nằm phủ phục trước bệ thờ như lúc sư cụ đảnh lễ.
Sư cụ ốm nhom có cảm giác thân mình bỗng dưng nặng như đá. Chiếc võng cọt kẹt rít lên, như sắp đứt phựt. Hả cái miệng không răng nhưng vẫn còn lưỡi, sư cụ muốn la to lên mà la không được (người ta bảo lúc ấy sư cụ sợ quá thụt mất lưỡi). Chiếc áo một năm chỉ có mấy lần giặt (sợ rách), dù cho âm ỉ mùi mồ hôi, mùi cáu ghét, có cả mùi rệp vẫn là chiếc áo thanh khiết không hề chung chạ, chỉ mặc khi tụng kinh gõ mõ, sao lại có thể khoát lên cái trăng trắng nhất định là không sạch đó! Nếu quát lên được cụ đã quát: “cái con đàn bà dơ dáy kia, mi có trả cái áo lại không thì bảo!” Nhưng nếu nó cởi ra trả, thì… cụ lại ú ớ như bị mộc đè, cái trăng trắng kia mà phơi ra lồ lộ, không chừng hàng trăm tượng trên bệ sẽ nổ bung hết cả hai con mắt!
Đang lưỡng lự chưa biết tính sao thì ngoài cửa có một vị mặc đồ công an cầm roi điện ngoái cổ nhìn vào, tưởng là sư cụ đang quì mọp, cất tiếng “mô Phật!” một cách diễu cợt, rồi bỏ đi.
Đợi cho kẻ săn đuổi đi khá xa, cái trăng trắng ngồi bật dậy lao ra khỏi chánh điện. Trước khi lẫn mình vào bóng đêm đã không quên ném trả lại chiếc áo và nói: “con xin thầy thông cảm!”
Phải một lúc lâu sư cụ mới đứng lên được. Cái lưng đau sẵn cọng với chiếc áo trên mình ả khiến cụ cảm thấy đau lịm cả người. Chiếc áo mà cụ giữ gìn cung kính là thế, giờ đang nằm hớ hênh một nửa vắt lên bệ thờ một nửa thòng xuống đất. Chao ôi! sao mà giống cái bộ da cáo của con hồ Nguyệt Cô quá! Đến nước này thì liệu có dám khoát lên mình mà đứng trước Phật đài?! Nó đã phủ lên cái gì trăng trắng đó rồi thì chính nó cũng đâu dám chường mặt ra trước cặp mắt của hàng trăm vị bồ tát.
Cụ run rẩy đặt mấy ngón tay lên lớp vải vàng ố vì đã quá cũ. Thường thì nó nhạt nhạt, lạnh lạnh. Nhưng giờ, như nó vừa được hơ lửa, nóng đến bỏng tay. Áo nóng hay tay mình nóng? Cụ ngơ ngác tự hỏi. Nó đã được cái gì trăng trắng cuộn tròn vào mình, khít rịt từ đỉnh đầu cho đến gót chân, đã từng nghe máu chạy dưới da, từng hít cái hơi son phấn nồng nàn, nó nóng là phải. Đó là cái mùi của tội lỗi. Còn mình? Mình cũng có tội chứ không à? Sao không nhào tớí mà ngăn nó laị? Cùng lắm thì cứ đè nó ra mà lột, đến tuổi này thì còn sợ gì cái trăng trắng đó nữa! Nhưng như thế thì ác quá! Nó sẽ bị công an lôi đi đưa vào những trại giáo dưỡng như nhà tù. Con nó ai nuôi, cha mẹ nó ai săn sóc?! Giá như hôm nay có đức Phật, chắc ngài cũng để cho nó mượn áo mà thôi. Có phải vì thế mà chiếc áo trở nên ô uế đâu. Khi hành đạo chính ngài đã nhặt nhạnh từng miếng vải vụn trên đường đi, kết thành một tấm vảỉ lớn quấn quanh mình. Chẳng thịt da nào là có tội. Cũng chẳng quần áo nào là đáng khinh. Không chừng chiếc áo vừa rồi đã làm nên ơn phước vì cứu được một người. Như thế cũng là công đức.
Sư cụ bình tĩnh nhặt lên, vuốt lại cho thẳng thóm, ướm thử lên ngực, ngần ngừ một lúc rồi treo lại trên vách.
Ngay sau đó, cái tin con điếm mượn áo cà sa để che cái ba vạn chín nghìn đã lan xa nhanh hơn cả điện. Người từ trên phố ùn ùn kéo tới. Kẻ thì đòi xé xác con đĩ đó ra vì làm ô uế cửa Phật, kẻ thì hí hửng muốn nhìn tận mặt con nhỏ chịu chơi dám đùa dai với sư cụ. Người ta xông vào chùa tranh nhau: sờ, ngửi, hít rồi khạc, nhổ, khiến chiếc áo được kết bằng trăm miếng vải vụn rớt rơi thành nhiều mảnh. Nhiều kẻ đòi đem đốt hoặc thả trôi sông, nhưng cũng nhiều người đòi giữ lại. Có kẻ muốn mua với giá lên đến bạc triệu.
Thôi thì mạnh ai nấy nói, la hét, cười cợt, vung tay, múa chân cứ như phát rồ. Sư cụ ngồi co ro trong góc, ngơ ngác, sợ hãi. Một người được xưng tụng là đại gia bổng chen vào, xốc áo sư cụ lên như xách một con nhái.
“Giữ chùa mà thế này à? Tôi xin hỏi bà con: để làm trụ trì hay nên thôi?”
"Thôi! Thôi!" Người ta gào lên. "Đuổi lão ra khỏi chùa, đồ sư hổ mang!"
Nhưng cũng có kẻ bênh vực: «tại con đĩ đó chớ đâu phải tại thầy».
Kẻ khác lại nói: «chung qui là tại công an. Bắt bớ loạn cả lên. Hết chiến dịch lại thả ra chứ bài trừ được cái gì».
Có kẻ xỏ lá: «biết đâu là cái cơ duyên, không chừng con đĩ đó sẽ cạo đầu đi tu. Cái áo cà sa đó hãy để dành cho nó!»
Ngay lập tức, người ta lập ra ban hộ tự. Trưởng ban là ngài đại gia nhà đất, phó ban là một nữ doanh nhân kinh doanh vàng bạc. Hai mươi mốt vị, có người đang mặc áo ngủ, có người đang mặc quần lửng, có người đang mặc áo không dây, có người đang mặc quần xệ rốn đứng thành hai hàng mà ánh điện của nhà chùa yếu quá soi không rõ mặt. Nhưng trông cũng bừng bừng khí thế như ủy ban cách mạng lâm thời vừa được chọn sau một cuộc đảo chính. Các vị hứa sẽ mở cuộc lạc quyên để vận động xây chùa.
« Chùa phải ra chùa, đại gia trưởng ban nói, bước đầu tôi xin cúng dường một tỷ ».
Tiếng hoan hô như sấm dậy.
Đúng như lời hứa, chỉ trong vòng nửa năm thôi, trên nền đất của ngôi chùa cũ đã bị phá hủy, lễ khai kinh mừng đặt viên đá đầu tiên được cử hành dưới sự chứng giám của các vị đại sư mặc y vàng rực rỡ.
Và cũng chỉ hai năm sau, ngôi chùa mới đồ sộ với những mái ngói cong như đuôi rồng, với lầu chuông gác trống đứng uy nghi soi bóng xuống dòng sông.
Giữa chánh điện là một tượng Phật thếp vàng cao đến 2 thước. Hào quang bằng điện tỏa ra sáng ngời, vun vút lao đi như tên bắn. Hòa thượng trụ trì là một tiến sĩ Phật học từng du học ở Tích Lan. Ngài lúc nào cũng tinh tươm, áo cà sa bằng lụa tơ tằm vàng rực, hai tay chắp trước ngực như búp sen non, nhỏ nhẹ, dịu dàng giữa đám đệ tử kỉnh Phật chuộng tăng, đa phần là nữ, lúc nào cũng lượn lờ những mong được ngài sai bảo.
Sư cụ bị tước y bát, cho hoàn tục. Các tượng Phật bằng gỗ cùng với chiếc áo trơ trẽn hơn một lần khoát lên mình con đàn bà ô uế bị rưới dầu đem đốt trên bờ đập, lúc này đã xây thành đập tràn kiên cố. Mùi gỗ mít, mùi vải mục, mùi con đĩ cọng với mùi dầu tạo thành một thứ mùi, nặng đến nỗi những người đứng xem phải bịt mũi mà vẫn cứ ho sặc sụa.
Cái xóm nhà lá đầy bọn đĩ điếm, ma cô, xì ke, bài bạc bị hốt đem đi kinh tế mới. Khoảng đất trống biến thành tiểu công viên với những cây dương trồng từng khóm cắt thành những chiếc thuyền và những cái tháp nhỏ nhiều tầng.
Thôi thì cũng đành một nhẽ, chùa đẹp như thế, tinh khiết như thế, nhất định là sẽ có Phật vàng.
Đời tốt biết bao!
Đạo đẹp biết bao!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô chiếc áo cà sa!
25/3/2014
Lời người post bài :
Nghe nói tác giã Khuất Đẩu là người TN nhưng ở đây không vì thấy người sang bắt quàng làm họ...
Các bạn đọc bài nầy thấy nó có ý nghĩa thâm thúy...
Cám ơn tác giã


Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2023

Khuất Đẩu: CON SÔNG XƯA

           Bến cũ,Đò Xưa-Tranh Mai Tâm
 

Con sông chảy qua làng tôi, ngày xưa chắc là sông đào, cùng với một con sông cũng nhỏ như thế chảy ở làng bên, nên gọi là Mương Đôi. Hai bờ mương người ta trồng tre để giữ đất, con sông nhỏ đến nỗi tre bên này chạm đầu vào tre bên kia. Và sông cũng ở dưới thấp, trong khi soi ruộng ở trên cao, nên người ta phải tát đến hai sòng. Ruộng thấp tát một gàu đai/ ruộng cao thì phải tát hai gầu sòng, là vì vậy.
Phải bốn người khỏe mạnh dẻo dai mới tát được gầu sòng. Khi múc nước dưới sông lên, người ta phải nghiêng người xuống, nhưng đầu, lưng và chân sau phải thẳng, tức chỉ còn một chân trụ. Khi kéo nước lên người ta lại phải ngửa người ra sau, sức dồn cả hai tay. Khó là vậy, nhưng cả bốn người cùng làm một lúc, nhịp nhàng đều đặn và chính xác như đã lập trình, nên chừng một phút đã nghe một tiếng“tòm” là lúc các tia nước bắn ra như pháo bông, một pháo bông mát lạnh, ngọt ngào. Họ tát suốt ngày, thỉnh thoảng dừng lại ăn miếng cốm bắp uống bát nước chè, hút một điếu thuốc vấn bằng lá chuối khô như con sâu kèn. Tôi thích cảnh họ tát nước hơn là đi cày bừa, trông họ sạch sẽ khoan thai, làm cứ như chơi nhưng thật ra tốn nhiều công sức. Đến khi có máy bơm thì gàu sòng được cất lên gác bếp, không còn cảnh những chiếc gàu vung lên cao như múa lụa, không còn nghe tiếng “tòm” mà là tiếng rè rè của máy chạy.
Ở những đoạn mương sâu, người ta dùng cành cây còn đủ lá để ngăn dòng nước chảy xiết, rồi đặt một bánh xe bằng cây khổng lồ, có gắn những ống tre đục rỗng một đầu, suốt ngày đêm nó tự lấy nước rồi đổ vào một con mương nhỏ trên cao, nơi có những bãi dâu, soi bắp khát nước đang chờ.
Sông Kôn, là mẹ của các con sông nhỏ, nhiều chỗ người ta dựng guồng san sát, trông thật đẹp. Nhưng nhiều guồng nhất và đẹp nhất là ở sông Trà Khúc. Rồi khi có máy bơm, hay có những con đập cao lớn, các xe guồng đều dỡ bỏ, đoạn sông trở nên xấu xí, như con thú vừa bị lột da.
Gò là nơi trẻ con đá banh làm bằng giẻ rách, lá chuối, nhiều khi với một trái bưởi, hoặc rượt đuổi nhau, đôi lúc phá tổ ong vò vẽ rồi ù té chạy, đứa nào bị ong cắn là nhớ đời. Nhưng bến sông mới là nơi trẻ con đứa nào cũng thích. Tắm thì ít, bằng cớ là hai bên tai cáu ghét dày đến nỗi có thể gieo mạ được, còn chơi giỡn thì nhiều. Thích nhất là chia phe “nhận nước”.
Nay, những đứa cùng xóm đó, nếu không chết vì chiến tranh thì cũng chết vì bệnh tật, vì tuổi già, giờ chỉ cỏn mỗi mình tôi là sống dai như đỉa.
Vì con sông quá nhỏ, nên mọi ngóc ngách chỗ nào cạn chỗ nào sâu người ta đều biết. Ngoẹo bà Quyển là sâu nhất, có mấy cây rù rì xồm xoàm rễ thả xuống tận đáy. Nơi đây có rất nhiều cá trê, nhưng cũng có rất nhiều ma da. Ngay chỗ guồng nước, có một con đập lá, người ta gọi là đập Bảy lăng. Mùa nước cạn thì không sao nhưng mùa lũ thì chảy như thác. Có một con đò trong buổi chợ phiên bị chìm, chết đến bảy người nên mới đặt tên như thế.
Nhưng ở thời cha ông ngày trước chứ lúc tôi còn học tiểu học thì con sông đất lở rộng hơn, nhưng cũng nhiều cát bồi nên trở thành trường tập bơi. Suốt cả mùa khô chịu đau cho chuồn chuồn cắn rún, giờ là lúc làm bài thi ra trường. Đứa nào bơi được qua bên kia là đậu một nửa, bơi về mới khó vì nước chảy ngược. Phải biết lựa theo dòng, không bơi về chỗ cũ mà ở chỗ bên dưới. Nhưng coi chừng tấp ngoẹo bà Quyển là có ma da chờ sẵn. Như bắc on bắc đơ, cũng đậu tú tài mà là “ tú tài toàn phần bơi”!
Lúc tôi với cái bụng no nước, vừa trần truồng leo lên bờ, đã thấy bà tôi cầm roi tre chờ sẵn. Tôi lấm lét như chó cụp đuôi cắm đầu chạy một mạch, về tới nhà là leo lên phản nằm úp mặt chờ bà cho ăn mừng thi đỗ bằng bánh canh …roi. Bà tôi chỉ có mỗi đứa cháu bánh tráng treo đầu gậy, rất sợ tôi tắm sông, nhất là trong mùa nước lũ.
Với tôi khúc sông đẹp nhất chảy qua thôn Thanh Liêm, phía bên kia sông thuộc xã Nhơn Thành, có một ngọn tháp hãy còn mới và chưa bị trùng tu, dù trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn hay bóng trăng trắng ngà, nó đều lặng lẽ soi bóng xuống lòng sông, cứ như hình bóng Trương Chi hiện ra trước mắt Mị Nương trong chiếc chén ngọc làm bằng trái tim chàng..
Một con sông khác nổi tiếng đẹp nhất nước, là sông Hương. Con sông của sử lịch của thơ văn. Cao Bá Quát, Nguyễn Tuân,…viết về vẻ đẹp, còn Lữ Kiều viết về cầu Tràng tiền khi phía bên kia lúc chưa thắng cuộc đã giật sập cho bõ ghét trong tết Mậu Thân.
Với tôi, nó đẹp, nó tinh khiết và có mùi hương là nhờ có bến Thừa Phủ. Bến Thừa Phủ thì thơm tho gì, nhưng từ bến đò này, các cô gái trường Đồng Khánh ngày hai buổi đều “sang ngang”. Con đò cũ kỹ được khoát lên màu trắng của áo trắng nữ sinh, và nón bài thơ, trắng hơn cả mây xứ Đoài, trắng như chở cả muôn ngàn hoa sen trắng thành nội. Cần gì mơ, Hoàng Trúc Ly chỉ cần đứng ở đây lúc em tan trường về là thấy nữ sinh bay nhiều quá/ những cánh tay mềm như cánh chim. Tôi không đứng, tôi xuống hẳn con đò, nhưng chẳng còn chút dũng cảm nào cả, tôi muốn sải cánh bay lên bờ nếu có cánh vì bị các cô trêu đùa. Một lần là tởn tới già, tức là tối nay, tôi vẫn chưa hết sợ.
Ở Huế, tôi học thì ít mà lang thang mơ mộng thì nhiều. Trong đáy rương tôi, lúc nào cũng dấu kín một nửa mái tóc đen tuyền, lấy trộm của cô giáo cắt bỏ tại tiệm uốn tóc khi cô phi dê. Cô coi là đồ bỏ, còn tôi thì quý như vàng. Cô chỉ dạy có mấy tháng lúc tôi học Đệ ngũ ở trường Cường Để, rồi được đổi về Huế. Từ đó đến khi ra Huế học, hơn 3 năm. Tôi giữ gìn cẩn thận còn hơn giữ con ngươi của mắt mình. Tôi định đem trả lại cho cô, nhưng nghĩ lại, không chừng bị cô mắng là đồ ăn cắp, nên thôi..
Một buổi chiều trước lúc bỏ học, tôi lặng lẽ đứng trên cầu Tràng Tiền, thả từng sợi, từng sợi một xuống sông cho đến sợi cuối cùng. Đến giờ, tôi vẫn không hiểu mình yêu cô hay yêu mái tóc! Chắc là yêu mái tóc, chứ yêu cô thì không dám đâu. Cũng có thể là yêu giọng cô nói, yêu dáng cô đi, yêu dáng cô đứng, yêu dáng cô ngồi khi cô vào lớp. Chỉ ngần ấy thôi, tóc cô giờ đã trôi ra cửa Thuận An, nhưng mà sao lòng tôi vẫn còn vương vấn đến tận bây giờ. Đúng là trời cũng không hiểu nổi.
Một con sông tôi chưa có dịp và không còn có cơ may được thấy là sông Hồng. Chỉ nghe người bạn Bắc kỳ di cư đã tan xác pháo ở kho đạn Quảng Ngãi, kể rằng: những con đê dài, cao ngây ngất, vậy mà không giữ nổi sức mạnh của nước. Mỗi khi đê vỡ, cả chục làng bị nó cuốn trôi. Đêm nghe tiếng trống báo hộ đê, khủng khiếp lắm. Đọc truyện Anh phải sống của Khái Hưng tôi còn nghe tiếng kêu của người vợ: “thằng Bò, cái Nhớn Cái Bé! Anh phải sống!” Rất thảm thiết!
Miền Nam, sông Tiền, sông Hậu, sông nào cũng bát ngát mênh mông, con đò ở bên kia mà bên này muốn gọi, đúng là phải ngoắc đến mòn tay. Ngày xưa, những người mở đất, vượt qua được con sông to rộng như thế phải nói là rất dũng cảm. Và giữa sông nước mênh mông, giữa lúc hoàng hôn đang lịm dần, ai mà không nhớ tới một thứ gì. Nhớ nhà, đương nhiên rồi, nơi xa xôi ấy có mẹ già tóc trắng, có vợ dại và con thơ, có mồ mả của tổ tiên. Nhớ nhà là nỗi nhớ bất tận, ngay cả khi vợ con đề huề sum họp, đời sống no đủ… người ta lại nhớ tới những lúc cơ hàn. Nỗi nhớ ấy thấm vào câu ca tiếng hát. Nó phải ấm áp nghĩa tình, phải thật dài hơi, nên thay vì réo rắt như quan họ, nỉ non như nam bình nam ai, hát chẳng những cho người cùng ngồi trên thuyền nghe, mà con ở bên kia sông xa thẳm, hát tưởng chừng vẹo cổ…nên mới có không chỉ một câu mà đến sáu câu Vọng cổ.
Sông xưa còn là nỗi đau của cả dân tộc. Như sông Gianh và Bến Hải, cả nghìn năm vẫn chưa nguôi nỗi đau anh em ruột thịt bị cắt chia.
Sông Như Nguyệt, sông Bạch Đằng, sông Rạch Gầm Xoài Mút là những con sông hùng vĩ chảy qua sử lịch bằng máu của quân Tàu và quân Xiêm La.
Nhưng những con sông xưa không còn như xưa nữa. Không phải nó to rộng hơn hay hẹp hơn, cũng không phải nó đổi dòng như sông Hoàng Hà ở bên Tàu, mỗi lần đổi cuốn theo vài chục triệu người. Nó đổi vì những con đập, không phải đập lá như ở quê tôi, cũng không phải đập tràn như ở sông Ba để đưa nước vào ruộng, mà là những con đập kiên cố cao cả mấy chục thước, nặng cả trăm ngàn tấn, để làm thủy điện.
Những con sông ngắn chũn ở miền Trung mà cũng phải đeo trên lưng cả chục con đập, như đập sông Tranh mấy lần suýt vỡ. Cái khốn nạn là khi mùa lũ, người ta không báo trước, đợi lúc nửa đêm lén xả. Dân đang ngủ bỗng nghe nước chảy ào ào, rồi nước vào nhà, chẳng mấy chốc nước lên tận mái, phải dở ngói thò dầu ra kêu cứu. Năm nào mà dân miền Trung, nhà cửa không bị cuốn trôi, người chết không đếm xuể. Không phải trời hành cơn lụt mỗi năm, mà bọn làm thủy điện nó hành. Kêu Đảng, Đảng chẳng nghe huống hồ là kêu Trời.
Sông Cửu Long thì mẹ chằn Tàu xây cả trăm trên thượng nguồn, mùa khô chúng đóng các cửa giữ nước, khiến hạ nguồn phơi cả đáy. Mùa lũ chúng thi nhau xả, gây đại hồng thủy cho cả đồng bằng sông Cửu Long. Bác sĩ Ngô Thế Vinh viết sách kêu cứu suốt mấy năm nay mà có ai thèm nghe đâu. Chẳng những không thèm nghe mà còn muốn bịt miệng cho câm mồm luôn.
Thì thôi, sông cứ việc chảy qua hồn tôi, nếu chảy qua tim làm vỡ mạch máu, khiến tôi gục xuống khi đang gõ máy như lúc này, thì càng hay, cứ như một tên lính già chết trận. Tôi chỉ còn mỗi con sông phải qua, là sông Mịch La mà thôi!
KHUẤT ĐẨU

5/23 


 Mời Xem :

 

 

Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 14) – MỘT MÌNH QUA PHỐ 

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2020

Khuất Đẩu: Viết ngắn giữa mùa COVI (12)- CÓ NHỮNG ĐÊM VỀ SÁNG…

 

Cõi người ta – Tranh: Thanh Châu

Đây là những đêm cuối đời, dài tưởng chừng như vô tận, chờ mãi mà trời vẫn chưa chịu sáng. Ngoài phố đêm, tiếng nổ cành cạch của xe chở hàng về khuya, rồi tiếng còi toe-toe cố kéo dài ra để đánh thức những người dậy sớm đi tắm biển, mãi mới nghe được bước chân rời rạc của những người sáng sớm tập thể dục, đi bộ.

Cái thân tứ đại suốt một đêm dài cũng đã mỏi quá rồi, nghiêng bên nào cũng đau cũng nhức, cứ muốn nằm dài mãi ra rồi chảy tan thành nước.

Ừ nhỉ, chết mà được như cục nước đá để ngoài trời, cứ mỏng dần, mỏng dần rồi tan biến lúc nào không hay, thì hay biết mấy. Chỉ cần đặt một cái thau hay cái chậu dưới gầm giường, rồi nằm im mà nghe xương thịt của mình nó tan chảy ra, nhỏ xuống từng giọt không hơn là nằm khò khè giữa tường trắng lạnh căm? Ít giờ sau, người nhà cứ việc bưng đi đổ, thế là xong một đời!

Cả triệu người chết vì con covid 19 cũng khỏi phải thiêu, khỏi phải chôn, cứ việc đặt những cái ống dẫn vào một cái hầm có khử trùng, xem ra rất tiện lợi và cũng rất kinh tế (đừng nhầm kinh thế).

Nhưng nói như Nguyễn Gia Thiều, trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán/ chết đuối người trên cạn mà chơi, nghĩa là ông trời bé cũng nghịch ngợm lắm, mà lại nghịch ác nữa nên mới bắt phải chết khô như cá chết trên cạn, chứ đâu chịu để cho chết ngon lành như thế. Kể ra, nghĩ cũng buồn cho cái giống người!

Nhưng mà thôi, trời chưa cho chết thì hãy cứ sống, còn một phút một giờ cũng rán mà sống.

Gabriel Marquez, tác giả Trăm Năm Cô Đơn lừng lẫy, chẳng những muốn sống mà còn muốn yêu và được yêu nữa kìa. Một nhân vật của ông, dù đã từng ngủ với hơn 500 người đờn bà, vẫn chưa biết thế nào là tình yêu, nên trong đêm sinh nhật thứ 90, ông ta muốn ăn mừng với một em bé hãy còn trinh!

Thế rồi mụ chủ chứa cũng kiếm được cho ông một em mà theo lời bà nói là hãy còn mặc tã lót, nên phải cho uống hợp chất đồng với lá cây gì đó để em khỏi hoảng sợ.

Khuya, ông đến thì thấy em nằm cong cong như đứa con còn nằm trong bụng mẹ. Ông có thử lay em dậy nhưng em vẫn ngủ mịt mù. Không biết làm gì hơn, ông nằm ru em ngủ, với tên em do ông phịa ra. Những đêm sau cũng vậy, rồi ông bỗng nhận ra rằng nằm bên em mà không làm gì hết, nhưng vẫn cứ muốn gần em,  đấy chính là tình yêu. Thế là ông khởi sự yêu em như trai 17, cũng ghen tuông cũng lo sợ, sau cùng ông trao tặng hết tài sản cho em và cùng em bước sang tuổi 90 với tiếng chuông nhà thờ đang đổ hồi ngân nga như chúc mừng!

Ôi chao, quá tuyệt vời là trí tưởng tượng của nhà văn xứ Nam Mỹ, thảo nào người ta gọi ông là nhà văn huyền ảo. Nhưng ở cái xứ Macondo thì được chứ ở xứ này, vào đồn công an là cái chắc!

Thế thì hãy đến Bhutan, một xứ sở nằm dưới chân Hy mã lạp sơn, được coi là nơi đáng sống nhất trên trái đất này, chứ không phải Tàu hay Mỹ. Một nơi mà mọi người đều sống chan hòa cùng với thiên nhiên, chỉ nghe tiếng gió thổi, tiếng nước chảy, ngoài ra không có tiếng còi xe nhức óc, không tiếng nhạc xập xình của ba bảy, ngay cả rạp xi nê dường như cũng không có.

Nhưng mới đây, công viên quốc gia của họ được liên hiệp quốc cho tiền để bảo tồn, thì xì thẩu bên kia núi chìa cái túi tham không đáy ra bảo lày là đất của ngộ á, hãy đưa tiền cho ngộ á!

Thế thì biết sống nơi nao, hỡi trời!

Những đêm về sáng, trời không mưa mà vẫn nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn, nghe đi rời rạc trong hồn… là vì vậy. Mà hồn của người già thì từ lâu đã không có tấm liếp nào nữa che gió về, nên nó cũng đã xơ xác tả tơi lắm rồi.

Thử nghĩ đến bạn bè, lại giật mình thấy mình quạnh hiu hơn nữa. Không kể những bạn đã ra “đi” lúc tuổi còn xanh, chỉ kể những bạn sắp già hay cùng già, những năm gần đây thôi, thì mười người đã “đi” hết bảy còn có ba! Rồi lại sẽ “đi” thêm hai nữa chỉ còn một, mà người sau cùng chưa “đi” lại chính là mình, thì thật kinh khủng quá!

Cứ tưởng tượng, sáng ra mở mạng chẳng thấy ai nhắn nhe gì mình, rồi suốt một ngày dài cũng không một tiếng điện thoại nào reo, trong khi cuộc sống vẫn ầm ầm lướt qua bỏ lại mình đứng trơ trọi như một trụ cây số bên đường thiên lý cũ, ngay cả chút nắng chiều cũng không thèm dừng lại, thế thì thật tội nghiệp cho những ai phải sống dai!

Có nhiều người bảo không cần đi đâu xa, chỉ cần làm theo lời Phật dạy là đã sống an nhiên tự tại được rồi. Tiếc rằng tôi  không được cái duyên làm đệ tử của Ngài và vì tôi trộm nghĩ, con đường giải thoát mà Ngài khó nhọc mới tìm ra được cũng chỉ đủ cho riêng Ngài thôi. Mỗi người đều có một con đường của số phận mình, không thể thấy con đường kia to rộng hơn mà bỏ đường này để sang đường đó được.

Đó là chưa nói tới con đường đến Niết Bàn xa thăm thẳm và cao chót vót, với hàng tỷ tín đồ từ nhiều ngàn năm qua, chen chúc nhau đến nghẹt cứng như thành phố giờ cao điểm kẹt xe, thì cái gọi là an nhiên tự tại cũng chỉ là một phép “tự sướng” mà thôi.

Vậy thì pha thêm một tách cà phê, đốt thêm một điếu thuốc, mở một đĩa nhạc mà lớp trẻ gọi là nhạc sến già, một mình chờ sáng cũng có thể tự bằng lòng mà rằng, mình cũng đang được an nhiên tự tại đây!

Thôi nhé, chào ngày mới! Mừng vì được sống thêm một ngày!

Khuất Đẩu

Viết giữa mùa ôn dịch


Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020

Khuất Đẩu: Viết ngắn giữa mùa COVI (1)- HÃY CỐ LIÊU XIÊU MÀ SỐNG

                                                 Hidden Tunnels – Tranh: Scott Finsthwait
Bắt Chước Vũ Thành An, tôi nhắc nhở tôi mỗi sáng rằng, hãy ráng sống cho qua cơn đại dịch cúm Tàu này. Không phải vì cuộc đời “vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao” mà vì cái con virus này nó tàn nhẫn quá, làm ngỏm cù đeo tất tần tật bất cứ ai nhơn nhơn giỡn mặt với nó. Nhất là những ai tự coi mình là kẻ hùng mạnh nhất trên trái đất này. Như Tập Cận Bình, như Donald Trump, như Kim jong Un…
Sống để thấy rằng cũng có lúc bom nguyên tử, hỏa tiễn liên lục địa, tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân … chẳng là cái thá gì so với một con virus bé tí ti. Và lúc này không phải là được ngồi bảnh chọe ở Trung Nam Hải, ở tòa Bạch Ốc, ở Bình Nhưỡng mới thực sự đáng sống, mà là được thong dong đi lại trên đường, được nhìn ngắm “hàng cây thắp nến lên hai hàng”, được “nghe trong gió bay lời em nói”, buổi tối về nhà, dù “dù đèn thắp lên thì mờ” vẫn có thể ngồi bình yên mà uống một ly rượu…
Để rồi,  nhận ra rằng mình đã hạnh phúc xiết bao, giàu có tốt tươi xiết bao và nhất là mình đã sống “dễ thở” như thế nào trong suôt hàng vạn ngày đã qua. Có một cụ ông 90 tuổi, đã khóc sau khi khỏi bệnh covi, không phải vì món tiền phải trả cho máy trợ thở khá lớn mà vì suốt 90 năm qua cụ đã thở một cách tự nhiên dễ dàng mà không phải tốn một đồng xu nào. Nếu phải trả tiền để “thở” thì chắc chỉ có Bill Gates và vài tỉ phú sống được mà thôi. Nhưng sống như thế để làm gì khi mà trái đất này trở nên quạnh hiu!
Thế mới biết cái bầu khí ôm trọn trái đất này nó huyền nhiệm làm sao, nó đã từng cho không biếu không cái thứ trong suốt gọi là khí trời, là suối nguồn vô biên đáng giá hàng tỉ tỉ đô la mà ta cứ tưởng đó là tự nhiên. Nó chính là cái bọc nước ối cho một sinh linh bé nhỏ thở được như cá trong bụng của người mẹ. Mất nguồn nước ấy, không một thai nhi nào sống được.
Cơn đại dịch này chính là lời cảnh báo của Mẹ Thiên Nhiên. Rằng, thế giới sẽ diệt vong, không phải vì trái đất nổ tung bởi một tinh cầu nào đi lạc, mà vì chính con người đã tự “rút ống thở” của chính mình!
Hàng triệu nhà máy, hàng triệu xe hơi, xe gắn máy suốt ngày đêm thải vào khí quyển hàng triệu tấn CO 2. Rồi những cuộc thử vũ khí hạt nhân bí mật và không bí mật, rồi sông suối ao hồ thải ra biển bao nhiêu hóa chất độc hại, như Formosa đã từng làm…thì cái ống thở của cả nhân loại, dù chưa bị rút cũng đã tắt nghẽn. Sẽ có covid- 20 rồi covid-2100, và nhiều nữa …chứ không chỉ covid-19 không thôi!
Đó là cái dại, còn cái ác của con người mới kinh hãi làm sao!
Con virus này dường như phát sinh từ một loài dơi, được các nhà khoa học ở viện vi trùng P4 Vũ Hán nghiên cứu, thấy cái mức độ lây lan khủng khiếp của nó, có thể giúp cho Tập hoàng đế lên ngôi bá chủ thế giới, bèn dùng dân Vũ Hán để phát tán ra các nước giàu mạnh như Anh, Pháp, Đức…nhất là Mỹ, hòng rút ống thở của tụi “tư bản giẫy chết”.
Mà đúng là đang “giẫy chết “ thật: ngay lúc này trên thế giới đã có đến 4 triệu ca dương tính với corona và trên 3 trăm ngàn người đã chết vì phổi không còn chức năng để thở. Mỹ với tham vọng của Donald Trump, muốn trở lại ngôi vị số Một thế giới, thực oái ăm, lại là nước bị nhiễm bệnh nhiều nhất và chết nhiều nhất.
Trong bộ phim nhiều tập Tam quốc chí, có cảnh lính của nước mình bị dịch chết trên thuyền, thay vì chôn thì Tào Tháo ra lệnh đẩy xuống sông Trường giang để đưa bệnh dịch tới nước Đông Ngô, nằm ở cuối sông!
Thế mới biết, cái âm mưu “rút ống thở” của cháu con Tào Tháo, tức là bè lũ Tập Cận Bình hiên nay là có thật.
Trong lúc Mỹ và các nước tư bản Âu châu khốn đốn vì con covid, thì Tàu cộng hí hửng reo mừng. Nhiều cổng chào được dựng lên hoành (bánh) tráng, và pháo bông được đốt sáng một góc trời khi thông tin cho biết Mỹ đã lên đến con số trăm ngàn dương tính! Và rồi khẩu trang, máy trợ thở, bộ xét nghiệm …ào ạt tung ra tràn ngập thế giới, vừa “bán (cắt cổ) vừa cho (đồ dỏm) để lấy le. Hàng tỉ đô la chảy vào cái túi tham không đáy, đúng là thần sầu hơn cả mưu lược của Khổng Minh.
Nhưng, (giờ mới thấy cái chữ nhưng rất nghiệt ngã mà cũng rất hiệu nghiệm), con covid “tái nạm gầu” lại trở về “quê mẹ” và đang bắt đầu quậy tới bến. Trước thì còn cố dấu, giờ phải xét nghiệm cấp tốc 10 triệu dân Vũ Hán. Và còn cả 1 tỷ rưỡi dân Tàu nữa thì biết xét nghiệm ra “nàm thao”!
Cuộc chiến với covid xem ra từ Trump đến Duterte, từ Tập đến Pu đều sứt đầu mẻ trán, và dĩ nhiên các cụ liêu xiêu từ 65 tuổi trở lên, đều mệt ngất ngư con tàu đi với nó.
Theo thống kê thì cái con virus này xem ra cũng hãy còn có chút độ lượng. Nó chỉ nhăm nhăm các liền cụ già si cốc đế, còn các liền chị và trẻ con, thì ít động tới. Mà như thế, cũng có cái hay là thế giới sẽ trẻ trung hơn , xinh đẹp hơn, hóa ra trong cái rủi cũng có cái may.
Thế thì, nếu viết xong bài này theo lời yêu cầu của bạn Trần Hoài Thư, mà con covid có tới gõ cửa, thì tôi cũng rất vui lòng mà từ biệt vợ con, và trước khi vẫy tay chào cuộc đời, tôi cũng xin gửi vào thinh không lời cảm ơn Mẹ Thiên Nhiên đã cho tôi được thở suốt 80 năm chẵn mà không lấy một đồng xu cắc bạc nào!
Cầu mong Mẹ luôn luôn mạnh khỏe, luôn luôn hào sảng như đã từng hào sảng!
Khuất Đẩu
Ninh Hòa, lúc 16 giờ ngày 13/5/20

( Góc Văn ,trang T.Vấn Và Bạn Hửu )

Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2023

Khuất Đẩu: TIẾNG CÒI TÀU (T.Vấn và Bạn Hửu )

                           Chuyến Tàu Hoàng Hôn – Tranh: THANH CHÂU

Mãi đến năm 15 tuổi, tôi mới biết xe lửa. Thực ra là chỉ thấy hai đường ray rỉ sét chạy song song bắc trên những tà vẹt bằng gỗ. Sân ga thì bị đập phá. Con tàu chỉ có hai toa cũ rích xọc xạch kéo bởi một đầu máy xe hơi, được gọi một cách tự hào là cam nhông ray. Trước đó chỉ có một toa cụt ngủn, được vài người đẩy, khi có trớn thì leo lên, hết trớn lại xuống đẩy gọi là xe goòng.

Cũng tốt thôi, kháng chiến mà. Nhờ có đường sắt của Tây để lại mà làng nào cũng có một, hai cái tà vẹt treo nhỏng nhảnh làm kẻng thay cho trống.

Suốt mười năm đi chân đất, giờ được ngồi trên cái gọi là xe, dù ngồi bệt xuống sàn, vẫn thấy sướng như đang mọc cánh. Một đôi lúc nghe nó kêu e… e… chứ chẳng nghe tiếng còi nào cả.

Phải đến hai năm sau, suốt một ngày vừa đi cam nhông ray, bò qua những cây cầu mà chân là những khúc gỗ chồng lên nhau, rồi lại tăng po qua ô tô chạy bằng than, lại đi thuyền qua sông Đà Rằng, tới ga Đông Tác mới thực sự là đi tàu lửa.

Con tàu dài ngây ngất, được kéo bởi một đầu máy to kềnh, lúc khởi hành huýt một hồi còi dài lảnh lói, phun lên trời một đám khói đen sì. Âm thanh của nó không đục như khói mà trong và nhẹ, nghe thật đã tai. Cùng lúc đó hàng trăm bánh xe bằng sắt bắt đầu quay nhịp nhàng, đều đặn phát ra tiếng kêu xình xịch, xình xịch như đánh nhịp.

Chạy một lúc nó lại kéo còi. Ấy là lúc nó vào ga Hảo Sơn dưới chân đèo Cả. Rồi lại kéo còi trước khi qua hầm. Mà đèo Cả có cả chục hầm, nên nghe nó huýt mệt nghỉ.

Tôi yêu tiếng còi tàu từ buổi ấy. Nó tha thiết ngọt ngào, chứ không phải kêu than buồn bã. Nó khiến cho con trăn dài kia có hồn, đáng yêu. Nó làm cho sân ga trở nên nhộn nhịp, nhưng không đến nỗi quá ồn ào nhếch nhác như các bến xe đò. Dường như ai đi xe lửa cũng tự hiểu ngầm rằng cần phải ăn mặc lịch sự. Và nét mặt phần đông đều tươi vui.

Dĩ nhiên, ga nào mà không có những cuộc chia ly. Có thể họ đã khóc với nhau nhiều rồi, nên lúc lên tàu, người đi đưa tay vẫy, người ở lại chạy theo dăm ba bước mới đứng lại ôm mặt khóc.

Vẫn những ngọn đèn như các đèn đường, mà sao đèn ở sân ga có vẻ buồn hơn. “Ga Lyon đèn vàng/ cầm tay nhau muốn khóc”. Chính màu vàng ấy đã làm cho những cuộc chia ly buồn hơn.

Sân ga là nơi mà nỗi buồn như trải rộng ra, nhất là những ga nhỏ, nhiều khi chỉ có hai người. Lúc đó, buồn từ hai đường ray, từ những cái tà vẹt, từ những trụ đèn gầy, buồn từ mặt đất lên tận trời. Buồn nhất là đưa một người đi mà lòng thầm biết không bao giờ gặp lại. Có người tự hỏi: “tôi đưa người hay tôi đưa tôi”.

Dù có thế nào, thì sân ga và tiếng còi tàu cũng góp một phần, khiến cho những cuộc tình trở nên lãng mạn hơn.

Nhưng chỉ được có vài năm, xe lửa không chạy xa được vì bị mìn, và bị các ngài trên núi chận đường, lùa cả trăm khách vào rừng sâu để nghe tuyên truyền. Một lần tởn tới già, chẳng còn ai dám đi tàu nữa.

Đường sắt lại bị bỏ không, nhiều nơi dân tháo cả đường ray để làm nhà sàn, tháo tà vẹt để đóng cừ chống xói lở…

Sau 75, ì ạch chắp vá mới chạy suốt từ Hà Nội vào Sài Gòn, gọi rất kêu là tàu Thống Nhất! Nhưng chạy chậm rì phải mất hai ngày đêm mới tới, dù được ưu tiên không phải dừng lại để tránh tàu nào. Tàu chạy bằng dầu diesel chứ không phải hơi nước, nên tiếng còi của nó tuy kêu to nhưng è e è e chứ không lảnh lói như trước.

Gần 50 năm rồi vẫn thế, vẫn chật chội dơ bẩn, vẫn đường ray cũ chỉ một mét chứ không phải gần một mét rưỡi, nên chạy mà sợ trật đường ray, và năm nào cũng thua lỗ dù dịp tết hay những ngày lễ lớn, giá vé đều tăng vọt.

Tuy bây giờ không còn tàu chợ, nhưng khi bắt đầu chạy là tàu biến thành chợ, mà là chợ độc quyền nên thứ gì cũng dở và đắt. Nhất là cà phê, có người hớp một ngụm liền phun ra bảo thua nước rửa chén.

Cái mà người Pháp để lại, hệ thống đường sắt Việt Nam là thứ đáng giá nhất. Đành rằng bị chiến tranh tàn phá, nhưng chính người mình phá nhiều hơn. Như đường răng cưa từ Tháp Chàm lên Đà Lạt, người ta từ lâu đã tháo hết để bán sắt vụn. Hai đầu máy thì bán như cho. Thụy Sĩ liền mua và biến thành cỗ máy đẻ ra tiền.

Giờ, có đường cao tốc xe hơi bắc nam, chắc còn báo lỗ nhiều hơn nữa. Dường như họ muốn ôm cái con bệnh này để lấy cớ nuôi nó, thực ra là nuôi một nhóm quyền lực nào đó.

Ngó sang Lào và Campuchia càng thêm thẹn. Vẫn biết là có thể dính bẫy nợ Trung Quốc, nhưng dù gì họ cũng có được đường xe lửa cao tốc có thể kết nối sang Thái Lan, Mã Lai, xuống tận Singapore.

Tiếng còi tàu mà tôi yêu đã không còn. Chỉ còn đôi chút an ủi, là hãy còn ga Nha Trang và ga Ninh Hòa khá đẹp, nhất là ga Nha Trang. Vậy mà nghe đâu người ta định dời ra ngoại ô để lấy đất vàng xây khách sạn.

Ga Ninh Hòa có một chuyện khá thú vị. Ấy là, cách đây vài năm, có một gia đình người Pháp sang Việt Nam không phải đi du lịch, mà lặn lội tới tận ga Ninh Hòa, là nơi cụ nội hay cụ cố gì đó đã từng làm trưởng ga. Họ chụp rất nhiều hình, từ nhà ga đến tháp nước, tỏ ra rất thân thiện với mọi người. Họ muốn biết ít nhiều về những ngày xa xưa mà người thân của họ đã từng sống. Họ còn xin một chút đất để đem về Pháp.

Tưởng nhớ như thế thật cảm động.

Xin cảm ơn tiếng còi tàu!

Xin cảm ơn những sân ga!

Và, cảm ơn những người Pháp!

Khuất Đẩu


 

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2020

Khuất Đẩu: Viết ngắn giữa mùa COVI (9)-NGÀY BUỒN NHẤT CỦA THẾ GIỚI

Kiếp Khác – Tranh: Thanh Châu

Đó là ngày, một con (hay một bầy) quỷ bảy màu, không biết từ cái lỗ nẻ nào ở Vũ Hán chui ra, mà có lẽ vì mắc cỡ sao đó nên các chú con giời cứ dấu biến! Hay là biết rồi nhưng lại muốn dùng nó thay cho bom vi trùng, bom sinh học để thống trị thế giới. Nó biến hóa còn hơn 72 phép thần thông của con khỉ Tề Thiên, từ một con biến thành trăm con, như mẹ Âu Cơ của ta sinh trăm trứng, rồi từ đó với cấp số nhân, nó biến thành hàng tỉ và bắt đầu thử ngọn đao sắc lẹm với 10 triệu dân Vũ Hán đang bị cách ly để thử nghiệm như những con chuột bạch.

Hảo lớ! hảo lớ! từ trước đã có 18 loại covid, nhưng chưa có loại nào tàn độc quỷ quái như con thứ 19 này. Nó hủy diệt nhanh đến nỗi những lò thiêu xác ở Vũ Hán, phải hoạt động liền tù tì suốt 24 giờ vẫn không kịp đốt hết xác, phải huy động đến cả những xe đốt rác lưu động các nơi đến trợ giúp, khói đốt xác đen kịt tuôn lên trời, còn hơn cả khói của những nhà máy nhiệt điện khổng lồ.

Nhờ WHO bao che, các chú con giời cứ chối đây đẩy, “cái lày không có à, chẳng ai chét cả à”, nhưng từ ngày nọ sang ngày kia, những người còn sống sót cứ phải rồng rắn sắp hàng dài đến cả cây số để nhận lãnh tro cốt của người thân.

Giống như điệp viên “không không thấy”, những con quỷ bảy màu đó âm thầm ẩn nấp trong cơ thể của một số dân Vũ Hán có nhà máy, công ty ở Ý, Tây Ban Nha, được WHO dán tem là không có virus và nếu có cũng không lây từ người sang người, nên được phép nhập cảnh, rồi từ đó, như những hỏa tiễn tầm xa mang đầu đạn virus nổ tung tràn lan ra khắp thế giới!

Nó lây nhanh còn hơn tốc độ của âm thanh, nên chỉ trong vòng 2 tuần lễ, trên 200 nước và vùng lãnh thổ, đều có sự xuất hiện của nó và đã được tổng thống Mỹ cay đắng chỉ mặt gọi là Chinavirus, nôm na là cúm Tàu.

Ngay khi tôi gõ những dòng này, gần 20 triệu người dương tính với nó và trên nửa triệu người đã vì nó mà chết trong tức tối ngậm ngùi vì không được một lần từ biệt người thân, cũng không một ai dám đến vuốt mắt, không cha cố nào đọc kinh cầu hồn hay nhà sư nào tụng kinh siêu độ. Những xác chết được bỏ trong bao, chất đống trong các hành lang bệnh viện, được ném vội vã vào lò thiêu hay chôn lấp trên hoang đảo.

Thế giới rối tung! Trường học, nhà máy đóng cửa, các nơi vui chơi tụ tập đông người như ca nhạc, đua xe, bóng đá đương nhiên đóng sập, con số người thất nghiệp xin cứu trợ tăng đến chóng mặt, tổng thống các nước hùng mạnh như Pháp, Mỹ lúng túng như gà mắc tóc, rồi những cuộc biểu tình đủ kiểu nổ ra…chưa bao giờ thế giới đảo điên như lúc này.

Có thể coi đây là chiến tranh thế giới lần thứ III, so với hai cuộc thế chiến trước, mức tàn phá của nó khủng khiếp hơn nhiều. Trước, nước nào hăng máu thì cứ việc đánh nhau u đầu mẻ trán mặc kệ, các nước khác cứ tỉnh bơ đứng coi bên ngoài, khôn ngoan thì làm ngư ông đắc lợi. Giờ, những nước ở tận nam bán cầu xa lắc xa lơ như New Zealand hay Na uy gần Bắc cực cũng không tránh khỏi. Đây là cuộc chiến tuy không có xe tăng đại bác, nhưng lại nổ đinh tai nhức óc suốt ngày đêm trên các trang mạng, chửi nhau ỏm tỏi, quy chụp lẫn nhau đủ các thứ tội ác, lớn nhất là tội diệt chủng.

Nó là cuộc chiến toàn diện giữa cái thiện và cái ác, giữa sự thật và sự lươn lẹo dối trá, giữa Đông và Tây, giữa Mỹ và Trung Quốc… Sự bỉ ổi, sự đê tiện được dịp lộ mặt khi các thế lực đen tối tung tin tặc vào các phòng thí nghiệm để ăn cắp, nếu không ăn cắp được thì phá hủy các dữ liệu, các nghiên cứu sáng chế văcxin để chủng ngừa virus của các nước Mỹ, Nhật, Anh, Đức… Cũng vì thế mà đến nay vẫn chưa có một vacxin nào được công bố cho cả thế giới vui mừng.

Cuộc chiến còn kéo dài, hết đợt này đến đợt khác, con virus chẳng những không bị làm cho yếu đi mà càng trở nên mạnh mẽ hơn, quỷ quyệt hơn, giết người mau chóng hơn.

Bánh xe tiến hóa của nhân loại đã ngừng và chưa biết bao giờ mới khởi động lại. Nếu tình trạng này kéo dài đến hết năm 2020, nghĩa là chừng 6 tháng nữa thôi, thì con số dương tính có thể lên đến cả 100 triệu, số chết đến vài triệu và nguy hiểm hơn là sẽ có thêm hàng triệu người chết vì đói, hàng trăm cuộc xuống đường cướp, đốt, phá, hàng ngàn những kẻ bị xì trét phát điên lảm nhảm đi đầy đường, hàng chục ngàn những đứa trẻ bị bỏ rơi, và trong những thùng rác, hàng trăm, hàng trăm thai nhi tội nghiệp bị vứt bỏ!

Nước Mỹ sẽ toang, Trump sẽ thất cử, fan cuồng đánh nhau với phe không cuồng như thời nội chiến bắc nam. Và, Trung Quốc, nếu đập Tam Hiệp không vỡ thì cả nền móng độc tài cộng sản cũng sẽ vỡ, dân Tàu sẽ lại như thời Hồng vệ binh, hay thời đại nhảy vọt, lại đổi con cho nhau ăn đỡ đói, nhưng với chính sách một con thì cũng chẳng sống thêm được mấy ngày, sẽ trở lại thời Đông Chu liệt quốc chia năm xẻ bảy, đánh nhau mù mịt.

Cũng có thể nhờ thế mà những thằng to đầu bớt ra oai đe nẹt các thằng thấp bé lùn tịt. Biết đâu, lại sản sinh ra một học thuyết mới, nhân cách mới, chính trị mới nhân bản hơn…không còn là thế giới phẳng để ai cũng có thể lướt trên đó như trượt patin, mà là một thế giới mấp mô, quanh co, khiến người ta sống chậm hơn, bình dị hơn.

Đúng vậy, nếu không bị tận diệt thì sau trận chiến với virus này, con người sẽ phải tỉnh táo hơn, khôn ngoan hơn, nhân ái hơn mới có thể tồn tại dưới bóng mặt trời. Một thế giới hậu covid 19 thanh bình sẽ sớm xuất hiện sau đêm dài hỗn loạn, tôi tin như thế.

 Khuất Đẩu

Viết trong mùa ôn dịch 

 (T.Vấn Và Bân Hửu )

 

ĐẾ KHÔNG VƯƠNG -Thơ Đông A và Thơ Họa

  ĐẾ KHÔNG VƯƠNG Tiếng là rượu Đế lại không Vương Lang bạt nơi nơi khắp nẻo đường Trong xóm cần lao xa mỹ vị Trên bàn trưởng giả cạnh cao lư...