Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Hành trình Xuyên Việt (P.2) - Hồ Xưa

Hành trình xuyên Việt (P.2)                                         


           Ngày 25-4-2012, từ khách sạn Sài gòn Quãng Bình ở Đường Quách xuân Kỳ, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quãng Bình, đoàn thẳng tới khu vực nhà thờ La Vang, thăm vĩ tuyến 17, cầu Hiền Lương tại sông Bến Hải, nơi chia đôi đất nước từ năm 1954 đến 1975. Bước từng bước nhẹ, đặt chân cây cầu lịch sử mà trong lòng nghe như vẫn còn có đôi chút cảm giác đớn đau.



                    
                      Cầu Hiền Lương ngày nay.


                           
                             Cầu Hiền Lương lịch sử.
          Cạnh cây cầu lịch sử bằng sắt củ kỷ hư hỏng, có cây cầu mới xây khang trang xinh lịch bắc qua dòng sông Bến Hải, dòng sông đã một thời ngăn đôi đất nước Việt nam thân yêu. Từ nơi đây, đoàn chúng tôi tiến về khu vực nhà thờ Đức Mẹ La Vang. Đây là vùng đất lịch sử có từ lâu đời của những giáo dân Thiên Chúa.
            Vào ngày 3 tháng 8 năm 1798, Đức Mẹ hiện ra một cách linh hiển nơi vùng đất cằn cổi, nghèo đói nầy để cứu độ cho những con chiên của Chúa vượt qua những ngày khó khăn của cuộc sống.
         Vào thời kỳ chiến tranh Việt nam ngôi nhà thờ La Vang đã bị thiệt hại năng, ngày nay hình ảnh dấu vết tàn phá đó vẫn còn lưu lại đậm nét nhưng tượng Mẹ vẫn trường tồn không hề hấn gì. Đến năm 2005, ngôi nhà thờ Đức Mẹ đã được Giáo Hội La Mã và đồng đạo trùng tu qui mô, khang trang, lịch sự.
         Một ngôi nhà từ thiện đã được xây dựng để tổ chức các cuộc lạc quyên, chăm sóc, giúp đỡ người nghèo trong khu vực và các vùng phụ cận. Hàng năm, vào ngày 3 tháng 8, một buổi lễ rất lớn được tổ chức để kỹ niệm ngày Đức Mẹ hiện ra hơn hai trăm năm trước, có hàng chục nghìn người từ khắp mọi nơi, kể cả từ các nước trên thế giới đã qui tụ về La Vang tưng bừng tham dự Đại lễ vinh danh Đức Mẹ. Nhà thờ La Vang đã nổi tiếng là linh thiêng huyền diệu.

                     

                   Tượng Mẹ La Vang.                                                             Ảnh: HX

            Từ giã Quãng Trị, đoàn trở về phi trường Phú Bài đáp chuyến phi cơ đi thủ đô Hà Nội.
            Sau gần một (1) giờ bay, phi cơ đã hạ cánh xuống phi trường Nội Bài, là cãng hàng không quốc tế lớn nhất Việt Nam. Nhân viên của Công Ty Saigontourist có mặt sẳn đón chúng tôi đưa về Hà Nội. Xe vượt qua đoạn đường dài, qua cầu Thăng Long bắc ngang sông Hồng. Cầu dài hơn 4 cây số. Dù không đi trong giờ cao điểm, xe cũng phải mất gần một giờ mới đến được trung tâm của thủ đô Hà Nội. Khách sạn Celia nơi chúng tôi sẽ trú ngụ nằm trên đường Hàng Gà thuộc khu phố 36 phố phường lâu đời từ ngày xưa. Đường phố cũ quá chật hẹp và không được sạch lắm, lối dành cho người đi bộ lại bị chiếm dụng làm nơi mua bán hàng và đậu xe đạp hay xe gắn máy. Người đi bộ chỉ còn phải đi giữa đường, thật là nguy hiểm. Nhưng ở Hà Nội có câu: “Người đi bộ phải tránh né nhường bước cho người lái xe, chứ người lái xe không bao giờ nhường lối cho người đi bộ.” Đó là đặc điểm của Hà Nội. Chúng tôi được dặn lưu ý điều nầy để gìn giữ sự an toàn mạng sống cho chính mình.
           Khách sạn Celia nơi chúng tôi cư ngụ thì lại rất tươm tất, tiện nghi, lịch sự và đồ dùng để lại được an toàn khi ra ngoài. Hướng dẫn viên Tuấn Huy của Saigontourist rất trẽ trung, vui tánh, lịch lãm, chu toàn, chuyên nghiệp làm cho khách du lịch rất hài lòng.               
                 

                   
                    Chùa một cột và tượng hoa sen.                                             Ảnh: HX

         Vào Hà Nội là vào vùng đất nghìn năm văn vật như ca dao truyền khẩu:

       “Thăng Long Hà Nội đô thành,
         Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ.
         Cố đô rồi lại tân đô,
         Nghìn năm văn vật bây giờ là đây”.

           Nghỉ ngơi vài mươi phút, đoàn bắt đầu được đi thăm chùa Trấn Quốc, ngôi chùa lâu đời nhứt của Hà Nội hướng mặt ra Hồ Tây, diện tích hồ rộng 500 mẫu tây, mênh mông bát ngát. Chùa do Lý Nam Đế xây dựng, có tượng Phật đẹp nhứt trong nước. Trong chùa có ngọn tháp cao 11 tầng, tượng trưng cho 11 đức tính của người tu hành, có cội bồ đề nguyên thủy chiết giống từ vườn bồ đề, nơi Đức Phật Thích Ca đắc Đạo ở Ấn Độ. Du khách cũng vào thăm viếng ngôi Đền Quán Thánh, tức là Đức Huyền Thiên Trấn Vũ.

                         
                       Hồ Hoàn Kiếm.                                                                Ảnh: HX

           Bức tượng bằng đồng đen của Ngài Quán Thánh cao 3.96 mét, nặng 4.000 kí-lô do Trùm Trọng đúc ra năm 1677 nghe nói rất linh thiêng. Rất nhiều người khi vào thăm, kể cả người ngoại quốc, thường lấy tay vuốt nhẹ vào bàn chân mát lạnh của Ngài, rồi thoa vào ngực mình với lời cầu nguyện cho sự bình an, khoẻ mạnh vì nghe đồn truyền rằng Ngài rất linh thiêng và đã ban nhiều ước nguyện thành tựu cho nhiều khách đến kính viếng Ngài. Tôi cũng tin tưởng và vui vẻ làm động tác nầy.


                    
                       Đền Quán Thánh. - ảnh HX.
  (tượng đồng đen trong chùa Trấn Quốc)
                                                                
    
            Buổi chiều đến, chúng tôi đi thăm đền Quốc Tử Giám, ở trung tâm thủ đô Hà Nội. Đền được vua Lý Thánh Tông ra lịnh xây dựng năm 1070, lúc ban đầu chỉ để thờ Đức Khổng Phu Tử và Chu Công, hai vị tiêu biểu đã sáng lập nên đạo Nho. Đến năm 1075, vua Lý Nhân Tông (1066-1127) mở thành trường đại học đầu tiên của nước ta để giãng dạy đạo Nho cho các hoàng tử trước khi nhận lãnh trách nhiệm làm vua trị nước. Sau nầy trường được mở rộng cho con các hoàng thân quốc thích và các học trò giỏi nhứt các nơi trong nước về học. Đền Quốc Tử Giám được xây dựng đúng theo dịch lý Á đông tạo ra sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên trời đất như đền một cột, hồ ao, sông nước, núi non cây cỏ. Muốn vào đền Văn Miều phải qua Đại Môn Quan với ba chữ Văn Miếu Môn bằng Hán tự, vào sân Nhập Đạo, đến cổng Đại Trung môn, Khuê Văn Các, Vườn Bia Tiến Sĩ cạnh hồ nuớc Thiên Quang Tỉnh. Có tất cả 82 tấm bia tạc (mỗi bên 41 bia) ghi tạc tên tuổi, quê quán các tiến sĩ đổ đạt mỗi khoa thi. Hiện vẫn còn lưu danh 1306 tiến sĩ trong tổng số 2313 vị đổ đạt. Bước qua Đại Thành Môn là vào sân các bậc Hiền nhân, trung tâm của Văn Miếu. Qua sân Đại Bái vào Tòa Bái Đường và điện Đại Thành gồm nhiều gian với 40 cây cột đỡ, nơi vua làm lễ tế Khổng Tử, cũng là nơi các vị tân tiến sĩ quì phục tỏ lòng tôn kính vua và vị tổ sư Nho giáo.
cổng  vào Văn Miếu.

(tượng rùa đá đội bia Tiến sĩ)

           Ngày 27-4-12: Từ Hà Nội đoàn hướng về Tỉnh Ninh Bình, đi ngang qua tỉnh Hà Nam, nhìn thấy đường vào chùa Bà Đanh. Mọi người ai cũng đã từng nghe nói câu “Vắng tanh như chùa Bà Đanh!” Tại sao chùa Bà Đanh lại được đại diện cho cảnh vắng vẻ nầy? Theo tìm hiểu thì có hai lý do: - Đường vào chùa rất khó đi và chùa được xây thiếu nghiên cứu nên vị trấn thần đã vô ý để chùa bị ếm lúc mới bắt đầu xây dựng. Do đó, chùa rất ít khách đi viếng, ngay cả vào những ngày lễ lớn.
           Đến bến đò sông Hoàng Long, đoàn chuẩn bị xuống thuyền đi du ngoạn trên dòng sông lịch sử. Nơi di tích lịch sử nầy, ngày xưa vua Đinh Bộ Lĩnh (sanh năm 924), lúc còn nhỏ là cậu bé bơi lội rất giỏi và rất thông minh thường hay đến đây vui đùa với các bạn.


                    

                    Dòng sông Hoàng Long (Động Hoa Lư).                                Ảnh: HX
         


                    
                       Chùa Đàn Trần (Động Hoa Lư).                                             Ảnh: HX
          
          Tục truyền rằng, lúc đó có một vị quan địa lý Tàu rất giỏi tướng số biết được vùng này là vùng địa linh nhân kiệt, bên dưới dòng sông Hoàng Long có miệng rồng, nên đã quyết tâm mang hài cốt cha mẹ mình vào đặt nơi đó, mong được phát huệ để được lên làm vua. Khi đến nơi vị quan tàu thấy Đinh Bộ Lĩnh cùng đàn trẻ chăn trâu đang tắm liền cho tiền vàng bảo đem hài cốt gói sẳn lặn xuống đặt vào miệng rồng. Đinh Bộ Lĩnh rất thông minh nên hẹn lại ngày sau, mới liền đem tráo hài cốt cha mình thay vào. Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh lớn lên khởi nghĩa dẹp loạn 12 sứ quân và được làm vua nước Đại Cồ Việt, đặt kinh đô tại Hoa Lư nầy, khởi nghiệp cho nhà Đinh trong 13 năm. Vùng núi non trùng điệp phủ quanh nầy là kinh đô Hoa Lư của vua Đinh Tiên Hoàng ngày xưa. Kinh đô Hoa Lư được bảo vệ bằng vòng rào đá vôi kiên cố vững vàng, có dòng sông êm đềm đẹp mắt. Du khách ngồi trên chiếc thuyền nhỏ được điều khiển bởi cô lái đò vùng quê mãnh mai thùy mị, rồi đão mắt nhìn quanh phong cảnh, thật là thơ mộng làm sao ấy!.
         Điều thú vị nhất có lẽ là ngắm nhìn các cô gái trẻ vừa dùng hai chân chèo thuyền lã lướt, tay lại cầm máy ảnh chụp ảnh một cách chuyên nghiệp cho khách. Chỉ cần một phút sau đó là có những tấm ảnh nghệ thuật rất ưng ý để kỷ niệm.
          Thuyền lướt nhẹ trên mặt nước sông trong veo xanh biếc lần lượt xuyên qua bảy (7) hang động đá vôi xinh lịch hùng vĩ, ngang qua chùa Đàn Trình, Đàn Trần và Đàn Khống nằm sát cạnh bờ sông. Đàn Khống là ngôi chùa thờ bảy (7) vị quan đại thần trung thành của vua Đinh Tiên Hoàng. Khi vua Đinh Tiên Hoàng băng hà, thi hài vua được các vị nầy bí mật đặt vào một trong 100 quan tài đặt lẫn lộn và đem chôn khắp nơi trong vùng núi Sơn Lăng, thuộc dãy Mã Yên, ở Trường Yên, vùng Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình ngày nay) hầu không ai biết nơi nào thi hài nhà vua được chôn cất, để gìn giữ bí mật cho thân rồng. Sau đó, bảy vị quan nầy cùng nhau uống thuốc độc chết theo, để tỏ lòng trung thành tuyệt đối với nhà vua. Họ trở đã thành bảy vị thần. Chùa thờ bảy vị quan tuẩn tiết rất hiển linh được dân địa phương bảo trì thờ phương quanh năm hương khói nghi ngút.
          Sau khi nhà Đinh, Lê thay phiên trị nước và sụp đỗ, mãi đến thời Lý công Uẩn tức Lý thái Tổ thành lập triều đại nhà Lý thì nhà vua cho dời kinh đô từ Hoa Lư nầy về thành Đại La (tức Thăng Long, Hà Nội ngày nay).
           Cách kinh đô Hoa Lư cổ xưa không xa lắm là vùng núi của chùa Bái Đính, một biểu tượng tâm linh đã có từ hàng ngàn năm nay. Bái Đính có nghĩa là núi có đỉnh cao, nơi có phong hầu bái tướng từ lâu đời. Bái Đính nằm ở địa phận thôn Sinh Dược, Xuân Trì thuộc xã Gia Sinh, huyện Gia Viên, tỉnh Ninh Bình, cách thủ đô Hà Nội trên 100 cây số, cách thành phố Ninh Bình 15 cây số. Trước núi là sông Hoàng Long, sau là dãy Trường Sơn trùng điệp, tạo cho Bái Đính thành trì “tiền thủy hậu sơn”. Núi Bái Đính cao 187 mét, diện tích trên 150.000 m2, là nơi thờ Thần Cao Sơn (tức là Tản Viên Sơn Thánh, con rể vua Hùng Vương thứ 18) đã có từ thời nhà Đinh nhằm trấn yểm gìn giữ, bảo vệ cho phía tây của kinh thành Hoa Lư được vững mạnh. Về sau, Đức Thánh Nguyễn (tức là Đức Nguyễn Minh Không, Quốc sư đời nhà Lý) đã chọn nơi nầy xây chùa làm nơi tu hành và tìm kiếm cây cỏ quanh vùng cũng như trồng thêm dược thảo để trị bịnh cho dân chúng. Bái Đính được mệnh danh là trung tâm của Phật giáo Việt Nam từ lâu, từ thời nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn cho đến ngày nay. Đầu thế kỹ 21, Bái Đính đã được mở mang hiện đại qui mô nhất từ trước tới nay, với hàng rào xây đá kiên cố, cao vút như tường thành. Bên trong có hàng trăm đền đài, cung điện với tượng Phật, chuông bằng đồng cao nặng vào bậc nhất nhì Đông Nam Á. Ngoài ra còn hàng nghìn tượng Phật trang trí quanh khu vực tạo nên khung cảnh hoành tráng, linh thiêng, sùng kính.


                    
                       Cảnh chùa Bái Đính.                                                             Ảnh: HX


                      
                         Chuông đồng trước chùa Bái Đính.                                  Ảnh: HX


                     
                        Chùa Bái Đính.                                                                       Ảnh: HX

            Đến ngắm cảnh Bái Đính, du khách phải công nhận đây là vùng bán sơn địa gồm núi đá, đồi đất xen lẫn đồng trũng và đầm lầy với hai con sông Lê, sông Hoàng Long và dãy núi Trường Sơn trùng điệp. Ngày nay nơi đây vẫn còn ghi lại dấu tích được Vua Lê thánh Tôn ban tặng cho Bái Đính danh xưng cao quý “Minh Đỉnh Danh Lam”, có nghĩa là ngôi chùa Phật rất đẹp và có giá trị thật xứng đáng. Khi vào xem khu vực mới xây dựng, du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng Điện Phật Tam Thế, Điện Phật Pháp Chủ, Điện Phật Quan Thế Âm, Điện thờ 500 vị La Hán rộng hơn 30 ngàn mét vuông. Những tượng Phật, tượng Phật Bà, La Hán thuộc loại đạt kỷ thuật điêu khắc tinh vi, cân nặng và cao nhứt nước, thật xứng danh là Trung tâm Phật Giáo Việt Nam.
          Ngày 28-4-12, chúng tôi đi thăm Đền Đô, nơi thờ các vua đời nhà Lý. Xe vượt qua cầu Long Biên, qua quận Gia Lâm, nơi có sân bay đầu tiên của Việt nam. Xe cũng lần lượt lướt qua cầu sông Đuống, đến tỉnh Bắc Ninh và vào Đền Đô.
         Đền Đô cũng được xây dựng theo qui cách phong thổ và dịch lý của Á đông. Phía trước có hồ, phía sau là trụ vững và hai bên là hồ bán nguyệt, chung quanh là tường thành vững chắc vây bọc.


                   
                      Cảnh Đền Bát Đế.                                                                  Ảnh: HX

            Tường cao 3 mét, dày một mét. Bên trong chia làm hai khu: Nội thất và ngoại thất. Nội thành là đền thờ tám vị vua đời nhà Lý như Lý Thái Tổ tức Lý công Uẩn, Lý Thái Tông, Lý Anh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông gọi chung đền nầy là Đền Lý Bát Đế, có đặt ngai thờ cùng bài vị của từng vị vua. Còn Lý Chiêu Hoàng mặc dầu có lên ngôi nhưng vì đã làm mất ngôi nhà Lý về tay Trần Thủ Độ của nhà Trần nên không được thờ nơi đây mà được thờ nơi quê ở Cửa Mả, đất Cổ Pháp, xã Đình Bãng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Bà sinh năm 1217 và mất năm 1278 thọ 61 tuổi. Nhà Lý bắt đầu từ năm Thuận Thiên thứ nhất năm Canh Tuất (1010) với vua Lý Thái Tổ và kết thúc vào năm Thiên Chương triều đại thứ hai năm Ất Dậu (1225) với Lý Chiêu Hoàng, tổng cộng 216 năm. Trong tám (8) vị vua đời Lý chỉ có Lý Thánh Tông là có tài và đức hơn cả vì đã có công đánh bắc dẹp nam, gìn giữ và mở rộng bờ cõi, làm khuất phục các lân bang, bộ tộc cùng làm rạng rỡ thanh danh cho quê hương đất nước. Đến Đền Đô hay Đền Bát Đế là để tìm lại di tích lịch sử, để chiêm ngưỡng công trình xây dựng mỹ thuật độc đáo và cũng để tưởng nhớ đến công đức của một triều đại vinh quang của nước Việt. Đền Đô vào các ngày từ 15 đến 17 tháng 3 âm lịch hàng năm đều có tổ chức lễ hội tưng bừng nhằm kỷ niệm ngày vua Lý công Uẩn đăng quang, nay trở thành ngày truyền thống lịch sử của toàn dân.
            Từ giã Đền Bát Đế tôn kính, chúng tôi thẳng đến tỉnh Hải Dương thăm quê hương Đức Trần hưng Đạo và Phạm ngũ Lão, vuợt trên quốc lộ 18, qua Đông Triều, Quãng Ninh nơi có mõ than nổi tiếng. Ngày trước dân chúng vùng Quãng Ninh nầy có đời sống khổ cực, thường hay bị bịnh tật vì ảnh hưởng hơi khói độc từ than đá. Con cái họ lại không được học hành. Ngày nay, xe chở than bị cấm lưu hành trên các quốc lộ mà phải chạy thẳng đến nhà máy hay ra cảng để tránh cho phố sá và nhà ở khỏi bị ô nhiễm. Nhìn thấy lộ trình xe chở than đi qua mà khiếp sợ; than đá biến hiện trường thành những “hắc lộ” đen thui. Xe tham quan hướng về núi Yên Tử, khu di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng trãi dài gần 20 km, thuộc xã Phương Đông và Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quãng Ninh. 
(còn tiếp...)                           


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...