Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Tạp Ghi và Phiếm Luận. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Tạp Ghi và Phiếm Luận. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

Tạp Ghi và Phiếm Luận : NHỮNG TỪ NGỮ LÝ THÚ BẤT NGỜ (3)

 

Tạp Ghi và Phiếm Luận :  

                      NHỮNG TỪ NGỮ LÝ THÚ BẤT NGỜ  (3)

                    

                                     ... Tô Tử dữ khách PHIẾM chu...
         
       Đó là một vế trong câu mở đầu của bài "Tiền XÍCH BÍCH Phú 前赤壁賦" nổi tiếng của Tô Đông Pha đi Tống. Cả câu như sau :
      "Nhâm Tuất chi thu, thất nguyệt ký vọng, Tô Tử dữ khách PHIẾM chu, du ư Xích Bích chi hạ 壬戌之秋,七月既望,蘇子與客泛舟,遊於赤壁之下..." Có nghĩa :
      "Mùa thu năm Nhâm Tuất, nhân ngày rằm tháng bảy, ông Tô Tử cùng khách THẢ THUYỀN  dạo chơi ở dưới bđá Xích Bích..."

      PHIẾM 泛 là chữ thuộc dạng Hình Thanh, lấy ba chấm 氵THỦY bên trái làm Nghĩa và chữ PHẠP 乏 bên phải làm Âm. Nên PHIẾM có nghĩa gốc là PHÙ PHIẾM 浮泛 là Trôi nổi bất định. Vì thế...
      PHIẾM CHU 泛舟 là thả thuyền trôi nổi trên sông hồ để rong chơi. Nên...
      PHIẾM LUẬN 泛論 là bàn luận lan man nhiều khía cạnh về vấn đề gì đó.
      NÓI CHUYỆN PHIẾM là nói lan man chuyện trên trời dưới đất, chuyện thế giới năm châu, chuyện nhân tình thế thái, chuyện thị phi thành bại đời...

      PHIẾM còn có nghĩa là cái gì đó chung chung, không rõ ràng, như ...
      PHIẾM CHỈ là chỉ chung cái gì đó hay sự việc gì đó. Trong văn phạm ta có :
      PHIẾM CHỈ ĐẠI TỪ là Đại danh từ dùng để chỉ chung một người nào đó hay một nhóm người nào đó. Ví dụ như :
      "Hắn Ta" nói rằng...       "Cái Thằng" mắc dịch đó... hay như ...
      "Tụi Nó" không chịu hợp tác...        "Các Anh" là ai, đến đây làm gì ?...

      PHIẾM còn có nghĩa là Hời hợt không thân thiết với thành ngữ :
      PHIẾM PHIẾM CHI GIAO 泛泛之交 là bạn bè kết giao rộng rãi không thân thiết. Những bè bạn do xã giao mà có, bè bạn thông thường.
      Cuối cùng ta có từ PHIẾM XƯNG 泛称 : là Xưng hô thông thường theo xã giao hằng ngày. Như...
      Gặp thanh niên thì gọi bằng CẬU, thiếu nữ thì gọi bằng CÔ, đàn ông thì gọi bằng CHÚ, đàn bà thì gọi bằng THIẾM. Người lớn tuổi thì gọi bằng BÁC, bằng ÔNG, bằng BÀ...

      Tựa đề của bài viết nầy là "Tạp Ghi và Phiếm Luận", nên chỉ "Ghi lại những chuyện tạp nhạp và bàn luận lan man không theo một chủ đề, mục đích rõ rệt nào cả !
                

                                          LOAN PHỤNG HÒA MINH  鸞鳳和鳴

      Ta thấy trong các đám cưới, lễ tân hôn hay vu quy xuất giá, người ta thường hay chúc cho chú rể và cô dâu mới "LOAN PHỤNG HÒA MINH, SẮT CẦM HẢO HIP". Ta tìm hiểu 2 câu chúc nầy nhé !

      LOAN PHỤNG HÒA MINH 鸞鳳和鳴 : LOAN thuộc hàng chim qúy tộc; còn PHỤNG là chuá của các loài chim. Ta hay thấy các tranh vẽ với câu thành ngữ "Bách Điểu Triều Phụng 百鳥朝鳳" Có nghĩa : Cả trăm loại chim bay về chầu chim phụng. HÒA là Hòa hợp, hòa chung lại. MINH 鳴 : Chữ nầy thuộc dạng Hội Ý, gồm có bộ KHẨU 口 là cái miệng ở bên trái, bên phải chữ ĐIỂU 鳥 là con chim; với nghĩa Hội Ý : Cái miệng của con chim là để...HÓT; Nên MINH 鳴 có nghĩa là Kêu,là hót. Nên...
                                                               
  Bách Điểu Triều Phụng 百鳥朝鳳

     LOAN PHỤNG HÒA MINH 鸞鳳和鳴 : là chim Loan chim Phụng cùng hòa nhau tiếng hót; Ý chỉ như vợ chồng cùng hòa hợp với nhau một cách vui vẻ vậy. Bốn chữ nầy có nghĩa tương đương với bốn chữ "PHU XƯỚNG PHỤ TÙY 夫唱婦隨" là Chồng hát thì vợ cũng hát theo.
     Ngoài ra, nhớ hồi còn nhỏ, khi phải đọc cho ông bà nghe các bộ Truyện Tàu như Tiết Nhân Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chinh Tây, La Thông Tảo Bắc... Ta hay bắt gặp cụm từ "MINH KIM THU BINH 鳴金收兵". THU BINH thì biết rồi là "Rút quân về", còn MINH KIM là gì? MINH ở đây có nghĩa là "Làm cho kêu"; KIM là "Kim loại". Nên MINH KIM 鳴金 là : Làm cho kim loại kêu lên; tức là gỏ phèng-la, gỏ kẻng để rút quân, nói theo chữ Nho là MINH KIM THU BINH !
     Chữ MINH 鳴 ngoài nghĩa KÊU và HÓT của chim và vật ra, còn một nghĩa cũng rất thông dụng cho con người, đó là từ MINH OAN 鳴冤 là KÊU OAN khi bị oan ức gì đó. Nên đi MINH OAN cho ai, có nghĩa là đi KÊU OAN cho ai đó. Thường ta cứ nghĩ MINH là Sáng tỏ, nên hiểu từ MINH OAN là Làm sáng tỏ oan ức của ai đó. Hiểu như thế là không đúng. Vì ta đâu phải ông quan của ngày xưa lại không phải là quan tòa của ngày nay, thì làm sao LÀM SÁNG TỎ OAN ỨC của ai cho được. Ta chỉ đi KÊU OAN để cho những người có thẩm quyền xem xét lại để LÀM SÁNG TỎ OAN ỨC, để GIẢI OAN mà thôi. Nhưng chính vì có người KÊU OAN nên mới có người GIẢI OAN, vì thế nên hiểu từ MINH OAN là GIẢI OAN thì cũng đúng thôi; rồi theo Tập Quán Ngôn Ngữ lâu dần người ta chỉ biết nghĩa phát sinh MINH OAN là GIẢI OAN mà không biết nghĩa GỐC của MINH OAN chính là KÊU OAN nữa.
                        


                                               MINH là Sáng

      Sẵn ta tìm hiểu luôn thêm 5 chữ MINH nữa, đó là : MINH sáng, MINH tối, MINH trà, MINH khắc và MINH LINH như sau đây :
    - MINH 明 là SÁNG : Chữ thuộc dạng Hội Ý.  Do 2 chữ Nhựt 日 và Nguyệt 月 ghép lại mà thành, với ý nghĩa : Nhựt là nguồn sáng ban ngày, Nguyệt là nguồn sáng ban đêm, HỘI 2 Ý của Nhựt và Nguyệt lại, ta có chữ MINH 明 là SÁNG SỦA (bất kể ngày hay đêm), như từ kép Quang Minh 光明 là Sáng Sủa, ngoài ra ta còn có :           
      * Minh Giám 明監 : là Soi xét một cách rõ ràng.
      * Minh Giám 明鑑 : là Gương sáng. Chữ Giám 鑑 nầy có bộ Kim bên trái, nên có nghĩa là gương soi (Ngày xưa chưa phát minh ra pha-lê, nên gương soi là do kim loại mài bóng lên để làm gương soi). Minh Tâm Bửu Giám 明心寶鑑 là Tấm gương để soi sáng lòng ta, là quyển sách gối đầu giường của những người Nho học.
    - MINH 冥 là TỐI. Chữ Hội Ý gồm 3 bộ. Bộ Mịch 冖 bên trên đậy chữ Nhật 日 lại và bên dưới là chữ  Huyệt 穴 là cái Hang. Với Hội Ý là "Mặt trời bị đậy lại, tối như hang sâu thăm thẳm". Nên MINH nầy là Tối Đen, như U MINH 幽冥 là Tối tăm mờ mịt. Âm Phủ còn gọi là Minh Phủ 冥府. Ta lại có rừng U MINH TRÈM TRẸM, vì là rừng lá thấp nên rất âm u hắc ám của xứ Năm Căn Cà Mau. Nhớ khoảng thập niên 50, tác giả Dương Hà đã viết quyển tiểu thuyết "Bên Dòng Sông Trẹm" rất ăn khách lúc bấy giờ.

    - MINH 茗 là TRÀ. MINH nầy là chữ Hài Thanh, với bộ THẢO 艹 là Cỏ phía trên chỉ Ý, và chữ DANH (Ming) phía dưới chỉ Âm, nên MINH nầy là một loại Thảo Mộc, là TRÀ. Thành ngữ của những ngày cuối đông đầu xuân là HÀN DẠ PHẨM MINH 寒夜品茗. Có nghĩa : Đêm lạnh cùng nhau ngồi lại bình phẩm và uống trà. Đây là cái thú tao nhã của người xưa với câu nói bất hũ :
            Hàn dạ phẩm minh ý vô cùng !  寒夜品茗意無窮!
Có nghĩa:
         Đêm lạnh mà cùng ngồi để nhấp nháp bình phẩm trà thì thật ý vị vô cùng, với đề tài nầy rất nhiều danh họa đã cho ra  đời rất nhiều tác phẩm nghệ thuật, nhất là giới Trà Đạo của  Nhật, xin được giới thiệu một bức dưới đây.
                         
                             HÀN DẠ PHẨM MINH 寒夜品茗

    - MINH 銘 là KHẮC, là GHI, là TRẠM lên kim loại.
      MINH nầy cũng là chữ Hài Thanh, có bộ KIM 金 bên trái chỉ Ý, chữ DANH 名 (Người Hoa đọc là Míng) ở bên phải chỉ Âm. Thành ngữ mà ta hay gặp là : Minh Tâm Khắc Cốt 銘心刻骨, có nghĩa : Trạm vào tim, khắc vào xương, mà ta nói là " GHI LÒNG TẠC DẠ. Lời của cô Kiều cám ơn Từ Hải khi đã báo ân báo oán xong xuôi :

                          TRẠM XƯƠNG TẠC DẠ xá chi,
                      Dễ đem gan óc đền nghì trời mây !

    - MINH 螟 là con cào cào, châu chấu.
      MINH nầy là chữ Hài Thanh, do bộ Trùng 虫  là Sâu Bọ bên trái chỉ Ý, chữ Minh 冥 là U Minh bên phải chỉ Âm. Nên MINH có nghĩa là loại Côn Trùng phá hoại mùa màng. Tuỳ theo chữ đi kèm, ví dụ :
       * MINH NGA 螟蛾 : là Con Bướm, còn gọi là con Ngài cánh nhỏ mình to, trên đầu có 2 cái râu dài có lông tơ như chơn mày của phái nữ, cho nên gọi chơn mày đẹp là Mày Ngài. "Râu hùm hàm én mày NGÀI" là mày của con Ngài nầy đây. Hai câu chót trong bài Tiệp Dư Oán của Hoàng Phủ Nhiễm là :

             借問承恩者,          Tá vấn thừa ân giả,
             雙蛾幾許長?          Song NGA kỷ hứa trường  ?
Có nghĩa :
                      Hỏi người yêu dấu điện vàng,
                 Đã dài được mấy hai hàng mày NGA ?!

       NGA MY 蛾眉 nầy là chân mày đẹp, khác với NGA MY 峨嵋 là một ngọn núi trong dãy Ngũ Nhạc 五嶽.
                
                                 Cào cào  và Minh linh  (con bà mụ) 

     * MINH LINH 螟蛉 : là Ấu trùng của con Ngài và con Chuồn Chuồn, ta thường gọi là con Bà Mụ, sống tạm ở dưới nước. Theo tài liệu về Chuồn Chuồn như sau :
       Người ta thường nói “chuồn chuồn đạp nước” đó là lúc chuồn chuồn đang đẻ trứng vào nước. trứng nở ra ấu trùng còn gọi là “con xin cơm” hay “bà mụ”. môi dưới của ấu trùng biến thành mặt nạ có gai khỏe để bắt mồi (cá nhỏ, tôm tép,…). Chuồn chuồn trưởng thành có thể sống khoảng 2 tháng, nhưng giai đoạn ấu trùng ở nước có thể dài tới 3 năm . 
       MINH LINH là con Bà Mụ, chỉ sống tạm ở dưới nước mà thôi, Nên MINH LINH còn có nghĩa là CON NUÔI. Ta có thành ngữ : DƯỠNG TỬ MINH LINH 養子螟蛉. Trong tuồng hát Cải Lương "Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ", khi Tiết Ứng Luông đánh với Phàn Lê Huê có hẹn rằng, nếu đánh thua thì sẽ ..."Theo chân nàng.. ... làm dưỡng tử minh linh ...á ..a ...". Nên sau đó Tiết Ứng Luông trở thành con nuôi của Phàn Lê Huê.
                        
                                             SẮT CẦM HẢO HIỆP 瑟琴好合
       
    SẮT CẦM HẢO HIỆP 瑟琴好合, còn đọc là SẮT CẦM HẢO HẠP, SẮT CẦM HẢO HỢP. HẠP HỢP đều do chữ HIỆP đọc trại mà ra. còn...
    SẮT 瑟 : Một loại đàn dài khoảng một mét; xưa có 50 dây, sau đổi thành 25 dây, rồi 16 dây. Khi đàn phải đặt trên mặt bằng mới diễn tấu được. Còn...
    CẦM 琴 : cũng là nhạc cụ xưa, nhỏ hơn SẮT, lúc đầu có 5 dây, sau đổi thành 7 dây, gọi là Thất Huyền Cầm.
    HẢO HIỆP 好合 : là Hòa hợp nhau một cách tốt đẹp. Nên...
    SẮT CẦM HẢO HIỆP 瑟琴好合 là Hai cây đàn Sắt và Cầm hoà quyện âm thanh một cách hay ho tốt đẹp, giống như là vợ chồng hòa thuận thương yêu nhau một cách vui vẻ hạnh phúc vậy. Đây là tậo quán ngôn ngữ riêng của người Việt Nam, ta chúc SẮT CẦM HẢO HIỆP 瑟琴好合, nhưng người Hoa chúc là CẦM SẮT HÒA HÀI 琴瑟和諧 là Cầm và Sắt hòa vào nhau một cách hài hòa. Ý nghĩa thì cũng như nhau, nhưng diễn đạt thì có hơi khác. Còn câu LOAN PHỤNG HÒA MINH 鸞鳳和鳴 thì Hoa Việt đều sử dụng giống như nhau !
               
                                  Nam vô tửu như kỳ vô phong 男無酒如旗無風

      Các tay bợm nhậu hay kháo nhau là "Nam vô tửu như kỳ vô phong 男無酒如旗無風"; Ý nói Nam tử hán đại trượng phu, đàn ông đàn ang mà không biết uống rượu thì như cờ mà không có gió vậy, nằm rũ xụi lơ không giống ai cả. Uống rượu vào như thêm gió cho lá cờ phất tung lên. Tửu nhập thì ngôn xuất, rượu vào thì lời ra, đàm thiên thuyết địa, nói chuyện trên trời dưới đất, chuyên anh hùng hảo hán, hào khí ngất trời... Nên lại có câu "Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm 酒入心如虎入林" : Ba ly rượu vào trong bụng rồi thì như "Túng hổ quy sơn 縱虎歸山" là thả cọp về rừng, mặc sức mà tung hoành; Nhưng về rừng là chúa tể sơn lâm, chớ uống say rồi mà ra phố chợ để quậy thì người ta lại quở rằng "Tửu nhập tâm như cẩu cuồng tại thi 酒入心如狗逛在市" Có nghĩa : Uống ba hột rượu vào bụng rồi thì như con chó chạy lòng vòng lung tung ngoài phố vậy. Ta hay nhầm giữa 2 từ :
     - Cuồng Cẩu 狂狗 : là con chó điên. Tính từ CUỒNG đặt trước Danh từ CẨU.
     - Cẩu Cuồng 狗逛 : là con chó chạy rong, chạy lòng vòng. Chữ...

      * CUỒNG 狂 có nghĩa là Ngông Cuồng, Điên Loạn, Mạnh Bạo. Như :
       + Khẩu xuất Cuồng Ngôn 口出狂言 là mở miệng nói những lời NGÔNG CUỒNG.
       + Phát Điên Phát Cuồng 發癫發狂 : ta nói là Nổi điên nổi khùg.
       + Cuồng Phong Bạo Vũ 狂風暴雨 : là Mưa cuồng gió loạn, gió mưa mạnh bạo.

      * CUỒNG 逛 : có bộ XƯỚC 辶(辵) là Bước Đi ở bên dưới, nên có nghĩa là Đi lòng vòng. Như Cuồng Thị 逛市 là đi lòng vòng ngoài chợ, là đi dạo phố đó.
      Vì thế, nên...
         CẨU CUỒNG TẠI THỊ 狗逛在市 là Con chó chạy rong ngoài chợ; chớ không phải là "Con chó ĐIÊN ở chợ" ! Nhưng...
       Đã uống rượu vào cho đã rồi, mà còn chạy rong ngoài chợ để phá làng phá xóm, phá rối trị an, thì cũng giống như con chó điên mà thôi !

                     
                                                     CẨU CUỒNG TẠI THỊ

       Mong rằng trong dịp Tết Nhâm Dần nầy, nếu có lở nhậu say thì đi về nhà ngủ, đừng đi lạng quạng ngoài phố để tránh bàng dân thiên hạ nói mình là "CẨU CUỒNG TẠI THỊ" !

      Hẹn bài viết tới !

                                                                杜紹德
                                                             Đỗ Chiêu Đức
Mời Xem 

 NHỮNG TỪ NGỮ LÝ THÚ BẤT NGỜ (2)

Thứ Ba, 14 tháng 12, 2021

Tạp Ghi và Phiếm Luận : Từ Chè TÀO THƯNG đến BÒ BÍA

 Tạp Ghi và Phiếm Luận : 


                              Từ Chè TÀO THƯNG đến BÒ BÍA

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2022

Tạp Ghi và Phiếm Luận : NHỮNG TỪ NGỮ LÝ THÚ BẤT NGỜ (7) - Đỗ Chiêu Đức

Tạp Ghi và Phiếm Luận :

                       NHỮNG TỪ NGỮ LÝ THÚ BẤT NGỜ  (7)
 
                                       Chim chít mà đu cành tre...
             
      Đó là một vế trong CHỮ NHO...DỄ HỌC nói về bộ Xích, theo thứ tự trong 214 Bộ Thủ của chữ Nho như sau :

     XÍCH 彳: là Bước Chân Trái. Cũng có nghĩa là Bước Chậm rãi. XÍCH vừa là Bộ vừa là Chữ. Khi là Bộ, thường đứng bên trái và được gọi là "Song Nhân Bàng 雙人旁". Có nghĩa là Bộ gồm có 2 chữ Nhân 人 chồng lên nhau 彳. Những chữ được ghép bởi Bộ XÍCH thường chỉ về Đi Đứng, Đường xá, Hành vi của con người. Ta còn có một biến dạng của bộ XÍCH là chữ SÁCH 亍 (còn đọc là XÚC) là Bước chân phải, nên XÍCH SÁCH 彳亍 : Bước chân trái một cái, bước chân phải một cái là đi Tản bộ, là đi Bách bộ, đi chầm chậm, như trong bai câu thơ của Lý Chí đời Minh :

               踟蹰横渡口,    Trì trù hoành độ khẩu,
               彳亍上灘舟。   XÍCH SÁCH thướng than chu.
Có nghĩa :
                     Chần chừ trước bến đò ngang,
              NGẦN NGỪ bước xuống thuyền sang bến bờ.
 

                                        Chim chít mà đậu cành tre...

     Ghép XÍCH 彳(bước chân trái) với SÁCH 亍 (bước chân phải) lại với nhau, ta có chữ HÀNH 行 là ĐI, như Hành Tẩu Giang Hồ 行走江湖 (là Đi Lại trên chốn giang hồ). Nghĩa phát sinh của HÀNH là LÀM, như Hành Động 行動; Đi đứng, ăn nói, cử chỉ là HÀNH VI 行為, mà Hành Vi là cái thể hiện phẩm chất đạo đức của con người, nên HÀNH còn được đọc là...

     HẠNH 行 là PHẨM HẠNH 品行 như câu nói của ông bà thường dạy : Nhân sanh bách HẠNH hiếu vi tiên 人生百行孝為先. Có nghĩa : Đời sống con người có cả trăm phẩm hạnh, hiếu là Phẩm hạnh đầu tiên nhất. Cũng chữ HÀNH khi đọc là...

     HÃNG 行 thì có nghĩa là Nơi sản xuất, là cửa hàng; như TỬU HÃNG 酒行 là Hãng rượu (Nơi chế biến và bán rượu). Nhớ trước năm 1975, các báo tiếng Hoa trong Chợ Lớn có đăng quảng cáo cho một Công ty xuất nhập khẩu ở Hồng Kông có tên là 行行行 thu hút không ít khách hàng muốn tìm hiểu xem Công Ty nầy kinh doanh cái gì và tên của công ty phải đọc như thế nào, làm cho business của công ty cũng trở nên vô cùng bận rộn và phát triển  .... Thì ra công ty đó đang chơi trò Giả Tá, 3 chữ 行 行 行 đọc là : HẠNH HÀNH HÃNG, tức là cái Hãng có tên là Hạnh Hành , thế thôi ! Vì HÃNG cũng là cửa hàng, nên chữ HÀNH còn được đọc là...
     HÀNG như NGÂN HÀNG 銀行 là Cửa hàng chuyên môn kinh doanh về tiền bạc.
     HÀNG còn là HÀNG NGŨ 行伍 như 2 câu đầu trong bài Tuyệt Cú 絕句 của Thi Thánh Đỗ Phủ 杜甫 là :
                 兩個黃鸝鳴翠柳,   Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu,
                 一行白鷺上青天。   NHẤT HÀNG bạch lộ thướng thanh thiên.
Có nghĩa :
                 Hai cái oanh vàng ca liễu biếc,
                 MỘT HÀNG cò trắng vút trời xanh.
  HÀNG còn có nghĩa là Ngành Nghề. Như "Cải HÀNG 改行" là Đổi Nghề. Ta có thành ngữ : HÀNG HÀNG XUẤT TRẠNG NGUYÊN 行行出狀元 : Có nghĩa là Bất cứ ngành nghề nào cũng đều có Trạng Nguyên của ngành nghề đó cả. Ý muốn nói : Bất cứ nghề nào cũng có thể phát triển đến đỉnh điểm và làm giàu lớn được cả ! 
      HÀNH 行 : còn là một thể loại Văn Học chỉ tất cả các bài thơ có thể phổ nhạc và hát được kể cả thơ trường thiên, như : TÌ BÀ HÀNH 琵琶行 của Bạch Cư Dị, TÒNG QUÂN HÀNH 從軍行 của LÝ Cần, LỆ NHÂN HÀNH 麗人行 của Đỗ Phủ....

      HÀNH 行 là chữ tiêu biểu cho câu nói của ông bà ta xưa kia thường nhắn nhủ là : Nhất tự lục nghì 一字六義 (Một chữ mà có tới 6 nghĩa !).
      
      Trở lại với câu thiệu mở đầu bài viết nầy với đầy đủ cặp Lục Bát như sau :

                      Chim chích mà đậu cành tre,
                  Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm !

      "Chim chích mà đậu cành tre" là bộ XÍCH ㄔ mà chúng ta đã biết ở trên. Câu tám "THẬP 十 trên TỨ 四 dưới NHẤT 一 đè chữ TÂM 心" là chỉ nói theo tự dạng mà thôi; Lẽ ra phải là "THẬP 十 trên MỤC 目 dưới NHẤT 一 đè chữ TÂM 心" mới đúng. Vì đó là chiết tự của chữ ĐỨC 德 với nghĩa Hội Ý của 5 bộ lại như sau :

       Bộ XÍCH ㄔ bên trái chỉ Bước chân với ý hiểu rộng ra là ĐI ĐỨNG, THẬP MỤC 十目 (chữ MỤC được đặt nằm ngang) là Mười con mắt, Ý chỉ THẤY NHIỀU. NHẤT TÂM 一心 là Một Tấm Lòng. Vậy ĐỨC 德 là gì ?! Xin thưa theo phép Hội Ý là :

       "ĐI NHIỀU, THẤY NHIỀU, mà làm việc gì hay xét đoán điều gì đó biết thông qua MỘT TẤM LÒNG để xét nét rồi mới nói mới làm, thì đó chính là lời nói và hành động có ĐỨC đó !"
       Một hình thức khác nữa của chữ Đức 德 là Đức 惪 (hay 悳 Đức) nầy đây. Bỏ hẵn bộ XÍCH 彳bên trái, và bộ Mục 目 được viết thẳng đứng hẵn hoi, hợp với chữ Thập 十 thành chữ TRỰC 直 là Ngay thẳng. Chiết tự chữ ĐỨC 惪 nầy gồm có TRỰC 直 trên, TÂM 心 dưới. Có nghĩa : Một tấm lòng ngay thẳng ! Vâng, MỘT TẤM LÒNG NGAY THẲNG đã là ĐỨC rồi !

                                  Diễn tiến và hình thành của chữ ĐỨC 
        
       Ông bà ta thường nói "Có ĐỨC mặc sức mà ăn" cho thấy "Cái ĐỨC" của con người nó quan trọng biết chừng nào ! Không dám lạm bàn, chỉ nói theo "chiết tự" của chữ viết : ĐỨC là lời nói và việc làm ngay thẳng đúng với lương tâm của con người đang sống trong một xã hội nào đo !      
       Còn một chữ nữa cũng khá thú vị đối với các thư sinh học chữ Nho ngày xưa, đó là chữ NHIÊN 然 : là Nấu, là Đốt... theo câu thiệu chiết tự của các Cụ Đồ Nho ngày xưa như sau :

                          Canh khuya NGUYỆT xế tà tà,
                   Bỗng nghe CHÓ cắn canh đà điểm TƯ !
Ta thấy :
     Chữ NHIÊN 然 phần trên bên trái có chữ NGUYỆT 月 được viết xiên xiên tà tà, bên phải là chữ KHUYỂN 犬 là con chó đang Sủa (cắn) trăng, và tận cùng phía dưới là bộ HOẢ 火 biến thể bằng 4 chấm 灬 (canh đà điểm tư !). Chữ NGUYỆT 月 còn là một hình thức biến dạng của b NHỤC 肉, mà NHỤC 月 với KHUYỂN 犬 ghép lại cũng là chữ NHIÊN 肰 có nghĩa là THịT CHÓ. Nên hai câu thiệu bằng Lục Bát nói trên có thể lý giải theo phép Hội Ý lý thú như sau :

     ... Đêm trăng thanh gió mát, cùng tụ tập dưới ánh trăng nghiêng nghiêng, ngâm thơ uống rượu và "nhâm nhi" với thịt chó đang bốc khói trên lò lửa, thì còn gì khoái trá cho bằng ?! Nên ...

NHIÊN 然 là Động từ có nghĩa gốc là Đốt, là nấu, nhưng thường được sử dụng làm Trợ từ có nghĩa là : Đúng vậy ! là Hiển Nhiên là thế ! là Tự Nhiên ! là Naturellement ! là Naturally ! Khi dùng để chuyển tiếp thì có nghĩa là : Rồi Sau Đó .... là Nhiên Hậu 然後... Còn...
 
NHIÊN (Chung Đĩnh văn) Kim văn                            Tiểu Triện                Khải Thư

     Chữ NHIÊN 然 bây giờ chỉ có nghĩa là NẤU, là ĐỐT khi được gia thêm một bộ HỎA 火 ở bên trái nữa như sau 燃, như trong từ NHIÊN LIỆU 燃料 là Chất Đốt vậy

- NHIÊN PHÁO HOA 燃炮花 là Đốt pháo bông, là bắn pháo hoa.
        - NHIÊN ĐĂNG 燃燈 là Đốt đèn, là thắp đèn lên.
        - NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT 燃燈古佛 là một vị Phật (tiếng Phạn là Dipankara hay Dipanikara) là vị Phật thứ tư trong danh sách 28 vị Phật. Nhiên nghĩa là đốt cháy, Đăng là cây đèn. Nhiên Đăng Cổ Phật cũng có khi được gọi là Nhiên Đăng Phật (燃燈仏), Đính Quang Phật 錠光, "Đính " là cái chân đèn.
     Trong Đại trí độ luận, đức Nhiên Đăng Cổ Phật khi đản sinh, chung quanh thân sáng như đèn, cho nên gọi là Nhiên Đăng Thái tử. Khi thành Phật cũng gọi là Nhiên Đăng, xưa gọi tên là Đính Quang Phật. Ở các chùa Việt Nam và Trung Quốc, Nhiên Đăng Cổ Phật thường được thờ chung với Phật Thích-ca Mâu-ni và Phật Di-lặc trong bộ tượng Tam thế Phật, nghĩa là các vị Phật thời quá khứ, hiện tại và vị lai (trong đó Phật Nhiên Đăng đại diện cho chư Phật trong quá khứ, Phật Thích-ca là vị Phật thời hiện tại và Phật Di-lặc tượng trưng cho chư Phật thời vị lai).
  Hẹn bài viết tới !

                                                                                     杜紹德
                                                                                 Đỗ Chiêu Đức




 
 

PHỞ VÀ CƠM -Thơ Như Thu và Thơ Họa

  PHỞ VÀ CƠM Xơi hoài phở tái chợt thèm cơm Vị phở ngon lành vẫn thích cơm Tuổi hạc thờ ơ nhìn bát phở Thân già lặng lẽ xới nồi cơm Mừng thê...