Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2017

THIÊN THƯỢNG THIÊN HẠ DUY NGÃ ĐỘC TÔN LÀ GÌ?

Tương truyền câu nói nổi tiếng“THIÊN THƯỢNG THIÊN HẠ DUY NGÃ ĐỘC TÔN” là của Đức Phật Thích Ca khi Ngài giáng sanh nơi nước Ấn Độ. Ý nghĩa câu nói đã bị diễn dịch sai lệch từ hàng ngàn năm qua những hệ phái khác nhau, qua những cá nhân khác nhau, cùng theo theo Phật Giáo hay không theo, đã làm cho người khác hiểu lầm thật đáng tiếc. Theo đó, ý nghĩa theo ngôn từ trên như sau:
       Thiên: Ông Trời, từng Trời, cõi Trời. Thiên thượng: trên trời, tức cõi Trời. Thiên hạ: dưới trời tức chỉ nhơn loại. Duy: chỉ có. Ngã: Ta. Độc: một mình. Tôn: kính. Duy Ngã độc tôn: chỉ có cái Ta là được tôn trọng nhứt.
      
Nhiều người hiểu câu nầy theo nghĩa thông thường là: Trên Trời, dưới Trời, chỉ có một mình Ta là tôn kính nhứt.
       Vì hiểu như thế nên nhiều người cho rằng Đức Phật quá tự cao tự đại, xem Trời Đất không có ai bằng mình. Đó là một cái hiểu hết sức sai lầm, hết sức mê muội, bởi vì Ngài là Phật rồi thì Ngài là bực Đại giác, hiểu rõ mọi lẽ cao siêu huyền bí trong khắp Trời Đất, thì Ngài biết rõ, còn có rất nhiều Đấng cao minh hơn Ngài, đứng trên Phật vị của Ngài, như Đức A-Di-Đà Phật, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, v.v... thì Ngài không thể thốt lên câu nói tự tôn tự đại như thế, nếu vậy thì không xứng đáng với ngôi vị Phật của Ngài.
        Theo đó, chúng ta phải hiểu câu nói trên có một ý nghĩa khác hẳn, bởi vì Phật nói về Tâm pháp, ý nghĩa rất cao siêu, do nghĩa của chữ: NGÃ.

        Nhưng NGÃ là gì?
        Ở đây, Ngã không phải là cái Ta tầm thường thấp kém, mà là cái BẢN NGÃ của mỗi người, là sự CHẤP NGÃ (cố chấp cái Bản Ngã). Cái Bản Ngã ấy, sự Chấp Ngã ấy nó to lớn lắm, vĩ đại lắm, cho nên hễ có ai khác đụng chạm đến cái Bản Ngã nầy thì nó vùng lên phản ứng quyết liệt, cho rằng chỉ có nó là quan trọng nhứt, đáng tôn kính nhứt.
       Con người vì Chấp Ngã nên coi thường mọi người, mọi vật, coi thường cả Trời Phật, nên si mê ám muội, không học hỏi được điều gì nên không tiến hóa được bước nào, lại gây ra nhiều ác nghiệt tội tình, nên cứ lẩn quẩn trong vòng lục đạo.
       Cho nên, Đức Phật Thích Ca nói ra câu ấy là để Phá Chấp, Phá Mê, thố lộ Tâm pháp Thượng thừa.
        Người nơi thế gian thường chấp cái TA Phàm Ngã, vì dục vọng trần gian, vì tất cả những cái hư giả phù phiếm, vì lục dục thất tình đeo mang trong xác trần ô trược, nên phải chìm đắm trong biển khổ muôn đời.
        Vì chấp cái TA Phàm Ngã hữu hình nên không thấy được cái TA Chơn Ngã vô hình. Chính cái Chơn ngã nầy mới thật là Ta, vĩnh viễn là Ta, chớ cái Phàm ngã chỉ là cái Ta giả tạm, vì nó là hữu hình nên hữu hoại, nhiều lắm là trăm năm cũng phải tan rã (gọi là chết). Cái TA Chơn Ngã ấy là gì? Đó là Linh Hồn, Chơn Linh, là Atma, là thần thức, v.v... tùy theo tên gọi của mỗi tôn giáo và mỗi dân tộc.
        Khi biết được cái Chơn Ngã báu trọng ấy thì ta mới lo trau giồi cho nó tinh anh, đặng thấy rõ đạo pháp cao siêu mầu nhiệm, để trở về với chơn lý thâm uyên huyền diệu. Ta sẽ tìm được ta trong cái bổn lai diện mục của ta, trong ánh sáng nhiệm mầu của chơn lý hằng hữu bất biến. Đương nhiên cái ngôi vị cao trọng nơi cõi Thiêng liêng là kết quả.

      NGÔ đây được hiểu là chấp ngã, là dính mắc, là bị ràng buộc đủ mọi thứ. Chấp ngã có gốc rễ từ tham, sân, si. Tùy theo tham sân si nhiều hay ít, nặng hay nhẹ mà thọ sanh nơi các cõi trời (thiên thượng) hay đọa ở các cõi giới thấp như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh (thiên hạ). Cái ngã này là cái ngã vướng mắc trong mỗi con người từ khi sinh ra đến khi lìa bỏ cõi đời. Nó ngự trị độc tôn trong mỗi con người. Đừng ai lớ xớ đụng đến cái ngã này, nó sẽ nóng máu lên, phản pháo nếu có ai động đến, đó chính là cái “Duy Ngã Độc Tôn!
       Từ đó, câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” có thể hiểu rằng: Ta từ vô lượng kiếp đến nay, nhiều khi sanh lên các cõi trời, lắm lần đọa vào các địa ngục, đầu dây mối nhợ không do đâu khác hơn là tham sân si đẩy đưa đến ngã chấp mà không thấy rõ bản chất vô ngã, duyên sanh từ thân tâm đến hoàn cảnh chung quanh.
       Nghĩa là vì chưa tìm ra nguyên nhân, nên trải qua vô số kiếp ta phải chịu sanh tử luân hồi. Nay đã thấy rõ nguyên nhân và nhất là đã có phương pháp diệt trừ, thì sanh tử luân hồi không còn chi phối ta được nữa.
       Cho nên trong Kinh Pháp Cú câu 154 còn ghi lại:
     “Ta đi lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà chưa gặp kẻ làm nhà. Nay ta đã gặp ngươi rồi, ngươi đừng hòng cất nhà thêm được nữa, những đòn tay, những cột kèo, những rui mè... của ngươi đã bị mục rã cả rồi...”
        Ngươi ở đây chính là Ngã!

      "Duy Ngã Độc Tôn " là có ý tự cao, tự cho cái Ta hơn Nguời.
        Muốn đuợc làm Nguời nổi nhất, uy quyền nhất, đẹp nhất, giỏi nhất, …hay nhất, đặc biệt nhất …cao qúy nhất. Khi nghĩ “Ta là nhất” thì sẽ nảy sanh uy quyền và thế lực rồi ỷ quyền, cậy thế lực nảy sinh ý muốn sai khiến chỉ huy nguời khác làm thế này thế kia.
       Muốn tranh giành vị thế thuợng phong hơn nguời khác, không cho ai đụng cái cái Ta của mình nên cũng mang ý nghiã của tâm phân biêt Ta và Nguời. Đó là Ngã chấp.
- Ngã Chấp: là tánh ích kỷ, vị kỷ. Vì ai cũng tự cho mình (tự tôn) là đúng, là hợp lý, là nhất, là hơn, là phải đuợc ưu tiên, …v.v…nên sinh ra:
- Tham: muốn thâu tóm những cái hơn về Ta.
- Sân: khi nguời khác đụng chạm tới quyền lợi Ta, là phê bình Ta hay phỉ báng Ta.
- Kiêu mạn: khi mình hơn nguời thì có ý khinh nguời.
- Ganh tị: thấy nguời khác hơn thì tức tối ghen ghét, tìm cách hạ nguời xuống.
       Từ tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị, sinh ra những tranh giành, xung đột…, do đó mà “đuợc mất, hơn thua, thắng bại, khen chê, thiện ác…”, rồi tiếp tục sinh ra “vui buồn, yêu ghét, giàu nghèo, ân oán, suớng khổ, nuối tiếc hy vọng, bạn thù, thân sơ, khinh trọng ….”
        Đó là tâm "Duy Ngã Độc Tôn", nguyên nhân của tham, sân, si, ganh tị, kiêu mạn, và kế tiếp nữa sẽ là tranh giành, xung đột, dối trá, lừa đảo, tội ác và làm cho đời sầu khổ.
Vì chỉ lo nghĩ cho bản thân, nên ta chỉ biết vun đắp cho chính bản thân TA và những gì thuộc về TA (ngã), đã khiến chúng ta, quên đi quyền lợi và hạnh phúc của nguời khác đã khiến chúng ta có những  hành động sai lầm:
- Ích kỷ: là lo lôi kéo những lợi ích về cho TA
- Vị kỷ: là làm cái gì cũng vì bản thân TA truớc
- Tự cao, tự tôn, tự đại: là cho "cái TA" là nhất
- Tự ái: là chỉ yêu mình trên hết
        Tất cả những tánh trên là "Bản Ngã", nằm trong cái "Duy Ngã ".
        Vì tự cho cái TA là đúng nhất tốt nhất, nên ta luôn tôn mình lên và hạ nguời khác xuống, phô trương cái hay của mình, che dấu hay chối bỏ lỗi của mình, bới móc cái lỗi của nguời.
       Đó là những tính chất:
- Phô trương mình
- Dìm nguời xuống
- Dấu lỗi mình
- Phô lỗi nguời.

        Cũng làm những việc giống y như nhau, vào thời điểm cũng như nhau, cùng mục đích hướng tới như nhau; nhưng của mình làm, của nhóm mình làm thì cho là chính nghĩa, là đúng lý, là lẽ phải. Còn việc kẻ khác làm thì lại lên án, phê phán là tà mỵ, là theo Tả đạo Bàng môn, là phi nhân, phản bội..v..v. Tất cả đều do xuất phát từ cái Bản Ngã xấu xa kia xúi giục.
       Trong Đạo Cao Đài, Đức Hộ Pháp PhạmCông Tắc lúc thuyết Đạo tại Đền Thánh (đêm 30 tháng 5 năm Quý Tỵ) có dạy:

      “Hôm nay, Qua giảng về sự thật và cái hay của tánh đức hạ mình và khiêm nhượng đổi lụng lại phản lực của nó là: Tự cao, tự tôn, tự đại.

       Chúng ta thử xét đoán tại mặt thế nầy, ta mang thi phàm xác thịt cũng như ai, ta xét đoán lại coi ta có hơn ai chăng? Có đặng hơn cái chi mà ta tự cao, tự tôn, tự đại? Cũng ở trong lòng mẹ mà ra, ai cũng sanh trong một khuôn luật như ta. Thân hình cả thiên hạ nơi mặt địa cầu này hai ngàn bảy trăm triệu người, ta thử so sánh có thể hơn hai ngàn bảy trăm triệu người đó hay chăng mà ta tự tôn, tự đại?

      Ta cũng như một hột cát ở bãi sa mạc kia.

       Lấy theo tình lý mà luận, đầu ta cũng một đầu, thân ta cũng một thân, ta không phải ba đầu sáu tay hơn ai mà ta tự tôn, tự đại, nếu lấy theo hình thể mà luận thì thân nầy thế nào, thì thân của bạn đồng sanh ta cũng như ta vậy. Ta không có lý do gì gọi ta hơn kẻ đó, hơn bạn đồng sanh ta mà ta tự tôn tự đại. Nếu như ta luận về mặt tinh thần, tại sao ta còn được Đại Từ Phụ ban cho ta khôn ngoan khéo léo, biết nên, hư, phải, quấy, lấy tinh thần đặng định hướng cái cái mạng sống của mình coi có mục đích chuẩn thằng không?

       Ôi! Thoảng như bạn đồng sanh ta thiệt thà hơn ta, thiếu kém về mặt trí thức tinh thần hơn ta, ta ngó thấy, nếu ta hơn bạn ta là nhờ căn tu của ta dày hơn họ chút thôi, còn căn tu của họ mỏng hơn ta một chút mà thôi, lấy theo lý luận về căn tu ấy, thì ta hơn họ, hơn mảy may mà thôi, hơn môt chút xíu thôi, không phải đủ mà ta tự cao, tự tôn, tự đại.

      Trái ngược lại, nếu người bạn đồng sanh thiếu kém hơn ta, khiếm cảnh tu hơn ta, mạng căn quả kiếp nặng nề hơn ta, thì ta phải thương yêu họ, tội nghiệp dùm họ, chớ ta không có quyền nào thù ghét họ, coi họ là hèn hơn ta, ta cao trọng hơn họ là không có lý do vậy. Bây giờ trái lại cái phản lực đó, chúng ta thử nghĩ coi, mình phải khiêm nhượng chơn thật hay xảo trá? Nếu kẻ nào tự cao, tự tôn, tự đại, mà giờ phút nầy không biết hạ mình đặng chiều chuộng người, thì đời nó không buổi nào thiên hạ thương được, dầu cho từ buổi nhỏ dĩ chí 100 tuổi già đến chết nó vẫn học mãi thôi, không buổi nào gọi tự đủ…”

       (Trích Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, năm Quý Tỵ)

       Bởi vậy cho nên: "Vị Ngã " (là sự thiên vị trong ngã chấp), là tánh xấu cần loại bỏ, nhất là đối với những người đang tập luyện tu hành, đang gần lẽ Đạo.

       (Tài liệu do Hồ Xưa sưu tầm từ nhiều nguồn)

Ăn nội tạng động vật có nguy hiểm cho sức khỏe không? Ăn thế nào là hợp lý?

Các món ăn từ nội tạng động vật đều rất hấp dẫn và được đánh giá là giàu dinh dưỡng. Tuy nhiên, ăn những bộ phận trong cơ thể con vật vẫn tiềm ẩn những rủi ro nhất định.

Tiến sĩ Manny Alvarez, Biên tập viên cao cấp trang Sức khỏe của tờ FoxNews, Trưởng bộ môn Sản phụ khoa và Khoa học sinh sản tại Trung tâm Y khoa, Đại học Hackensack (Mỹ) đã có một bài viết về nội tạng động vật trên tờ báo của mình.
Ăn nội tạng động vật có nguy hiểm cho sức khỏe không? Ăn thế nào là hợp lý? Những câu hỏi mà ngay chính người Việt Nam cũng đang thắc mắc sẽ được tiến sĩ Alvarez giải đáp ngay dưới đây.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á, nội tạng động vật như tim, gan, cật, lòng và não… được sử dụng rộng rãi để chế biến thành nhiều món ăn hàng ngày.
Trong khi đó, các bộ phận bên trong cơ thể con vật lại không thường xuyên xuất hiện trên bàn ăn của người dân Mỹ. Chỉ có một số bộ phận nhỏ thích ăn có vài món nhất định với nguyên liệu là nội tạng như món ruột lợn và pate.
Không thể phủ nhận được một sự thật là nội tạng động vật có hàm lượng dinh dưỡng rất cao.
Ngoài chứa rất nhiều khoáng chất sắt, folate, canxi, đồng, B1, B2 và kẽm, gan động vật rất giàu Vitamin A. Dù mang lại những lợi ích dinh dưỡng nhất định, bộ phận này cũng tiềm ẩn chứa những rủi ro không thể bỏ qua.
Thực tế cho thấy, hàm lượng Vitamin A dồi dào tới mức khiến các chuyên gia dinh dưỡng rất quan tâm.
Cách đây nhiều thế kỷ, những trường hợp ngộ độc thức ăn có vitamin A đã được ghi nhận. Năm 1597, trong nhật ký của mình, ông Gerrit de Veer (thành viên đoàn thám hiểm từ Nova Zembla tới Indonesia) đã mô tả việc các thủy thủ bị ngộ độc khi ăn gan gấu trắng Bắc cực.
Hơn thế nữa, trung bình 100 g gan chứa 1,2 g chất béo bão hòa và 302 mg cholesterol, nhiều hơn lượng cholesterol tối đa hàng ngày được cho phép sử dụng đối với người khỏe mạnh (300 mg) và người bị bệnh tiểu đường hoặc bệnh tim (200 mg).
Ăn nội tạng động vật có nguy hiểm không: Câu trả lời của Tiến sĩ Mỹ người Việt cần đọc - Ảnh 2.
Trong khi đó, nhiều nghiên cứu gần đây đã đặt ra nghi vấn cholesterol và chất béo bão hòa là 2 trong những tác nhân gây ra bệnh tim.
Hiệp hội Tim mạch Mỹ vẫn luôn khuyến cáo người dân rằng chất béo bão hòa chỉ nên giữ ở mức thấp hơn 5-6% lượng calo tiêu thụ hàng ngày.
Ngoài ra, một cảnh báo với những người thích ăn gan và thận động vật là các loại nội tạng đó có thể chứa độc tố nếu con vật đó bị nhiễm chất độc từ thức ăn hoặc môi trường.
Nhiều chuyên gia dinh dưỡng còn lên tiếng rằng một số bộ phận nội tạng động vật không chứa nhiều chất độc nhưng cũng gây ra nhiều nguy cơ rủi ro khác.
Ruột, nếu không được chế biến sạch và nấu chín (nấu trong thời gian dài), có thể mang theo nhiều loại vi khuẩn nguy hiểm, ký sinh và gây bệnh cho người.
Còn món ăn được chế biến từ não động vật cũng có thể liên quan đến việc truyền những bệnh hiếm, điển hình là bệnh bò điên ở người.
Trong số các loại cơ quan nội tạng, tim là bộ phận mang lại khá nhiều lợi ích sức khoẻ với rủi ro tương đối thấp (ngoài việc chứa nhiều cholesterol). Bạn có thể sử dụng tim như một loại thịt hoặc có thể xay và trộn cùng với thịt để chế biến món ăn.
Hầu hết nội tạng động vật đều an toàn nếu bạn sử dụng với tần suất thấp. Nhưng với những ai thường xuyên ăn gan, thận, lòng…. từ động vật, coi đó là món ăn hàng ngày thì nên cân nhắc về các nguy cơ sức khỏe.
Lưu ý khi ăn nội tạng động vật:
Những người bị bệnh tim mạch, tiểu đường, gout, béo phì nên hạn chế ăn vì nội tạng chứa nhiều cholesterol.
– Nên sơ chế sạch và nấu kỹ trước khi ăn
– Chọn các loại nội tạng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, uy tín.
* Theo FoxNews

CHÚT NẮNG NGHIÊNG - Thơ Trần Chu Ngọc


Xin cảm ơn ngày rất nhẹ nhàng
Qua con dốc một khung trời tiếc nhớ
Tiếng chim hót đầu ngày vụn vở
Trên đường qua lối nhỏ loanh quanh

Nơi ta về với tuổi nhỏ ngày xanh
Con đường làng - chiếc cổng - dàn hoa giấy
Ghế đá xưa chờ nhau nơi ấy
Bên bờ ao hoa Sen nở mùa hè

Khoảng bình yên bên dòng thác lũ
Những cánh cò bình thản rỉa lông
Thung lũng xa trải rộng mênh mông
Đứng bên cầu mà như hồn trẻ mãi

Nơi ta đến thắm tươi màu hoa dại
Chợt thấy đời còn những xôn xao
Buồi sáng nắng lung linh đón chào
Cho một chút hồn nhiên ngày chủ nhật

Tranchungoc

Vì sao những con sông không bao giờ chảy theo đường thẳng? (Từ tinhhoa.net)

Đường thẳng là con đường ngắn nhất, nhưng các con sông có vẻ như thích tự làm khó mình, khi liên tục uốn lượn kéo dài hàng ngàn cây số. Tại sao lại như vậy?

uốn khúc, Tại sao, dong song,
Sông Iguazu ở Nam Mỹ. (Ảnh: 360doc)
Nếu không tính đến những con sông, hồ nhân tạo, thì có thể khẳng định rằng không có một hệ thống sông ngòi nào trên thế giới chảy theo đường thẳng. Bạn có thể tự mình kiểm chứng bằng ứng dụng Google Earth.
uốn khúc, Tại sao, dong song,

Không con sông nào có đường thẳng, nhưng để cong được thì mất một thời gian dài.
Nước luôn chảy xuống dốc, nhưng có thể cái vùng dốc ấy không thẳng. Mà ngay cả khi con đường nước chảy có thẳng đi chăng nữa, lâu dần dòng sông vẫn bị uốn cong. Và độ cong của những con sông đến từ sự kết hợp giữa rất nhiều yếu tố của tự nhiên.
Thử tưởng tượng như sau: Bỗng nhiên xuất hiện một chú rái cá “đục khoét” một bên bờ sông để làm tổ. Lỗ nhỏ thôi, nhưng điều đó vô tình làm lớp đất bên bờ sông yếu đi.


uốn khúc, Tại sao, dong song,
Nước sẽ dần chảy vào cái lỗ với tốc độ ngày càng nhanh hơn vì lớp đất bị bào mòn, đồng thời khiến dòng nước ở bờ còn lại yếu dần. Dòng nước chậm chạp ấy mang theo đất cát, bồi đắp phía bờ còn lại. Và rồi qua thời gian, đoạn sông đang thẳng thành cong theo đúng nghĩa đen.
uốn khúc, Tại sao, dong song,
Tất nhiên, chú rái cá chỉ là một ví dụ vui mà thôi. Còn thực tế trong tự nhiên, có rất nhiều yếu tố tác động đủ để cong một con sông mà chẳng cần đến một chú rái cá đào đất nào cả.
Bẻ cong được một đoạn sông, tức là đã đổi hướng chảy của dòng nước. Dòng nước bị đổi hướng sẽ tạo một lực tác động lên đất bờ sông, làm tăng sự xói mòn, và rồi phần còn lại cũng dần cong theo như một quy luật tất yếu.
uốn khúc, Tại sao, dong song,
Những đoạn sông có lưu lượng càng lớn, độ dài giữa các đoạn uốn càng xa nhau. Nhưng có một điểm thú vị của tất cả các con sông trên thế giới, đó là độ dài giữa một đoạn uốn hình chữ S sẽ bằng 6 lần chiều rộng 2 bờ sông. Tức là một đoạn sông ngắn sẽ giống như phiên bản thu nhỏ của khúc sông lớn hơn.
uốn khúc, Tại sao, dong song,
Một đoạn sông ngắn… (Ảnh: megacurioso.com.br)
uốn khúc, Tại sao, dong song,
…sẽ là bản sao của các khúc sông lớn hơn. (Ảnh: megacurioso.com.br)
Sự cong này sẽ diễn ra liên tục theo thời gian. Và nếu như không gặp phải vật cản như đá tảng, núi,… sẽ có lúc 2 đoạn uốn lượn của sông chạm vào nhau.
Lúc ấy, dòng sông sẽ lại chảy thành thẳng, để lại sau lưng quá khứ “cong vẹo”. “Quá khứ” ấy được gọi là hồ móng ngựa (oxbow lake).
uốn khúc, Tại sao, dong song,
Quá trình hình thành của hồ móng ngựa. (Ảnh: megacurioso.com.br)
Hồ móng ngựa có thể nói là một đặc trưng cho thấy sự tồn tại của một con sông gần đó. Và bạn biết không, trên sao Hỏa cũng có những dấu vết của hồ móng ngựa, cho thấy rằng hành tinh Đỏ đã từng là nơi chứa rất nhiều đại dương cùng hệ thống sông ngòi phong phú.
uốn khúc, Tại sao, dong song,
Sao Hỏa cũng từng có đại dương và sông ngói. (Ảnh: newscientist.com)
Theo SH

Người Hoa ở Đàng trong, trước khi người Pháp có mặt

Vương Trí Nhàn giới thiệu
LÀM GIÀU NGAY TRONG CHIẾN TRANH, TRƯỜNG HỢP MỘT NGƯỜI HOA Ở ĐÀ NẴNG 1858
Xứng với cái tên gọi tổng quát “Xứ Đông dương thuộc Pháp’, cuốn hồi ký của Paul Doumer quả thật bề bộn tài liệu. Tuy vậy tác giả vẫn dành tới bốn trang chữ nhỏ (từ 98 tới hết 101) để nói về một chuyện liên quan tới khâu hậu cần trong những ngày đầu của cuộc chinh phục, tức là khi chiến thuyền của Pháp tới Đà Nẵng.
Chuyện này, do Bichot, về sau từng là Tổng tư lệnh quân đoàn Pháp ở Đông dương kể lại.
Theo Doumer nó không chỉ cho thấy sự có mặt của người Hoa ngay cả ở những nơi ngoài biên giới nước họ mà còn “sự tháo vát và tinh thần thương mại” của họ “cách thức giúp họ len lỏi vào mọi nơi” kể cả những nơi tưởng không có chỗ cho buôn bán.
Chuyện kể rằng khi đội quân trong đó có trung úy thủy quân lục chiến Bichot tới Đà Nẵng, khu vực này lúc đó còn là một làng chài hoang vắng. Chưa được hai ngày thì thấy một chiếc thuyền nhỏ xuất hiện, trên thuyền có một người Hoa mang theo một túi nhỏ.
Khi xin được phép mở cái đẫy ra để bán các thứ hàng mà đám quân viễn chinh cần, anh ta bầy ra đủ cả kim chỉ cúc áo, thuốc lá xà phòng, bút chì bút mực và quản bút, giấy, những lọ mực nho nhỏ, cuối cùng là hai chai rượu mùi.
Mặc dù rất thích tôi vẫn không thể chép ra đầy đủ đoạn văn hơn hai ngàn chữ này. Ta hay nghĩ các chính khách là những kẻ rất khô khan không bao giờ để ý những chi tiết một phần. Mà chắc chắn hơn – trừ những trường hợp mị dân - còn phần đông họ muốn giấu mình đi để cho thiên hạ càng thấy mình xa lạ càng hay.
Đằng này Doumer, người từng đứng đầu xứ Đông dương (1897-19020) và về sau từng ngồi ghế tổng thống Pháp 1931-32, ông tác giả hồi ký này lại có một bút pháp hết sức sinh động, nhất là trong những chi tiết miêu tả, nó là dấu hiệu của một óc quan sát sắc sảo.
A - Tác tên người Hoa nọ được Doumer xác định như một kẻ khôn ngoan lõi đời tháo vát giỏi tổ chức công việc.
Ngay trong chuyến hàng đầu tiên, các chiến binh người Pháp nhận ra là đã gặp anh ta ở Quảng Châu, trong một quán hàng mà vị con dân của thiên tử nhà Thanh này mở gần các trại lính Pháp – lúc này Pháp cũng đang có mặt ở miền Nam Trung Hoa.
Công việc tiếp tế kéo dài tới khi Pháp tạm rút. Doumer dẫn lại lời Bichot.
"Một vài tuần sau đó chúng tôi gặp lại A - Tac, nhưng lần này trong một cửa hàng đẹp đẽ đặt ngay tại nhà anh ta ở Nam Kỳ. Hai mươi năm sau, khi tôi trở lại Đông dương, với chức đại tá chỉ huy trưởng trung đoàn lính khố đỏ An nam, tôi thấy A-Tac đã thành một trong những thương nhân lớn nhất của Sài Gòn. Ít lâu sau A-Tac qua đời nhưng cửa hiệu của anh ta vẫn còn" (cuối trang 101)
* * *
Để hiểu về sự giàu có của người Việt mình, rất nên so sánh với sự giàu có của người Trung Hoa, đấy là một chủ đề tôi đã nêu đây đó và đã được một vài bạn đọc đồng tình.
Trong cái đề tài quá rộng này, nếu ta chỉ nói tới việc làm thương nghiệp của người Hoa, thì chắc chắn cũng là quá sức với bất cứ ai.
Ở đây, tôi chỉ muốn dừng lại ở một hai ý tưởng cụ thể:
+ người Trung Hoa giàu không chỉ vì bên cạnh việc sản xuất ở đó CON NGƯỜI NGHỀ NGHIỆP của họ phát triển mà còn vì họ biết tổ chức lưu thông và phân phối
+ mà chung quanh câu chuyện lưu thông phân phối, nếu chỉ nói rằng họ năng động linh hoạt còn quá đơn giản, cái chính là họ có một cách nghĩ tổng quát rộng rãi về cuộc sống về xã hội.
Nói cho to tát ra , quan niệm về sứ mệnh làm người và nhu cầu của con người ở họ đã phát triển.
Câu chuyện về anh thương nhân người Hoa trong cuộc chiến tranh ở VN cuối XIX đã nói lên điều đó.
Đối với anh ta sự buôn bán là điều thiêng liêng nhất của cuộc sống. Nó quan trọng hơn tất cả mọi điều. Bởi nó là nhu cầu của tất cả mọi người cũng như sự phát triển là nhu cầu của mọi cộng đồng. Chiến tranh, dù quan trọng đến đâu cũng chỉ là chốc lát, chỉ phát triển mới là vĩnh viễn. Kẻ thắng trong buôn bán sẽ là kẻ thắng trong mọi cuộc chiến tranh, họ thắng trong cuộc đời này nói chung.
* * *
Nói tiếp câu chuyện mà Doumer vừa kể. Sau chuyến đi lần đầu, người Hoa nọ còn có mấy chuyến tiếp theo, mang đủ các thứ hàng và lần nào cũng được những người An Nam “trần như nhộng” tiếp sức.
Có lần A-Tac mang theo một buồng chuối, do một người An Nam cõng. Hãy so sánh hai vai chính.
Một bên A Tac linh hoạt chủ động luôn luôn nở nụ cười vui vẻ và cả những cái nháy mắt của kẻ “đi guốc vào bụng mọi người’.
Còn anh nông dân địa phương thì hiện ra ngờ nghệch có vẻ như hoàn toàn không hiểu điều gì đã xảy ra.
Theo Bichot, thoạt đầu anh nằm cuộn tròn trên bãi có, đôi mắt trợn tròn như gặp hổ. Nhưng mà kìa... hổ biết ăn chuối, việc đó có vẻ khiến anh an tâm, tiếp theo là nỗi tò mò muốn biết những người lính kia là thế nào.
Nhưng chỉ có thế. Không bao giờ anh ta trở thành một thứ A Tác.
Câu chuyện trên xảy ra hơn một thế kỷ trước, mà sao vẫn là một gợi ý tốt để ta cùng nghĩ về ngày hôm nay, Tình thế bảo khác cũng đúng mà giống nguyên như cũ cũng đúng. Dù trên danh nghĩa, con cháu “người An Nam” kia đã trở thành chủ nhân ông đất nước này, nhưng thực tế điều gì đang xảy ra, chúng ta đều biết. Đã đến thời mà những nhiệt tình yêu nước là không đủ nữa, để phát triển đất nước cần có một cách nghĩ khác so với cách nghĩ những năm chiến tranh. Nhưng chúng ta chỉ biết tiếp tục cách làm cách nghĩ của ngày hôm qua, chả biết học ai và trước tiên không biết mình là thế nào, thế giới này là thế nào.
Rồi chúng ta khác được bao nhiêu so với ông cha ta 1858?
Rồi chúng ta sẽ đi tới đâu?
NGƯỜI HOA Ở KINH THÀNH HUẾ CUỐI THẾ KỶ XIX QUA CON MẮT CỦA MỘT NGƯỜI PHÁP
Dưới nhan đề “Huế những năm 1876 – 1877 “, số 5-2003 và các số tiếp theo của tạp chí “Nghiên cứu Huế” giới thiệu cuốn “Vương quốc Annam và người Annam” của J.L. Dutrueil De Rhins.
Được viết từ 1879 song những trang nhật ký hành trình này gợi cho chúng ta những nét khái quát về nước Việt thời ấy từ đó giúp ta hiểu một vài phương diện tình hình hôm nay. Nào là một đám đông sống lười biếng uể oải nhưng lại luôn luôn náo động vì chuyện cướp bóc. Nào là người Hoa thì làm chủ mọi sinh hoạt kinh tế và do đó thao túng cả các mặt quan hệ khác.
Dưới đây là phần trích dịch hai đoạn ngắn:
* * *
Con đường mở ra trước mặt hai cây cầu hai bên là tiệm người Hoa. Chính phủ An Nam vốn nghi ngại người ngoại quốc lại mở cửa đối với người Hoa, nhưng chỉ cho phép họ ở mức độ thấp. Tại Bắc Kỳ, đông người Hoa hơn, có lẽ không đến mười ngàn người Hoa, và trong mỗi tỉnh ở Trung Kỳ, có không đến năm trăm. Và như thế, ở Huế có khoảng hai trăm người ở Thuận An, phần lớn rải rác trên thuyền bè người Hoa hoặc làm việc cho hoàng thượng, từ trăm rưỡi đến trăm tám ở Chợ Được và chưa tới hai chục người ở chung quanh. Đó là chưa kể ba chục người Hoa từ Sài Gòn ra xây nhà cho phái bộ mới của Pháp. Dù không đông, người Hoa đã chiếm lĩnh phần thương mại quan trọng; các tiệm ở Chợ Được của họ rất giống với những cửa hàng tạp hóa: ta bắt gặp ở đây nhiều hơn hết là vải Tàu và Anh, lụa và cô tông, đồ sành, gốm, đồ gỗ, trà, thuốc phiện, lương khô Tàu, thuốc hút, giấy, đồ chơi, các món thờ cúng, dụng cụ làm bếp… Các người Hoa đến từ nhiều tỉnh khác nhau: Hải Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến… và có vẻ đoàn kết với nhau lắm, dù thuộc nhiều tín ngưỡng khác nhau. Nơi họ nhận thấy sự kiêu hãnh nòi giống và ý thức khả năng trên hẳn người An Nam. Các người Hoa chỉ rặt buôn bán này, vốn chẳng lãnh sự hay tập đoàn gì bảo vệ mình, vẫn đi đứng ngẩng cao đầu trước mặt người An Nam, quan lớn, quan nhỏ gì cũng thế, không nhường bước cho ai, biểu lộ một thứ thương hại trịch thượng đối với người bản xứ, và càng được nể nang hơn thêm.
* * *
Đoạn dưới đây dành để nói về đám cướp bể người Hoa và cách nhà Nguyễn dùng họ để trị dân và chống lại quân Pháp:
MỘT LẦN ĐI CỨU THUYỀN
Nói chung lính canh An Nam canh phòng kém, luôn cả khi họ đông người và luôn cả khi trời tốt. Chẳng phải là ngủ hoài mà họ lại chồm hổm, gà gật gần như là ngủ vậy, chẳng cần biết chuyện gì xảy ra chung quanh, chỉ chăm chăm chờ đến giây phút những cây gậy của quan trên quất vào lưng mà thôi. Toàn một tuồng vờ vịt nơi đám người u mê này.
Khi tôi trở lên boong, sớm hôm sau, vị chỉ huy người Nam và Cocles vui vẻ đến bắt tay tôi và chuúng tôi duyệt hàng ngũ bầy con rối. Cả bầy đều trang bị, kẻ dáo người gươm hoặc súng bắn đá. Tôi nảy ra ý nghĩ bắt tháo đạn ra: vì trời hồi đêm có phần ẩm ướt, chẳng nghe phát súng nào, và tôi chuồn gấp để khỏi phì cười vào mặt viên tướng phường tuồng kia.
Một lát sau, một chiếc tam bản chèo tới bên hông, và chủ thuyền cho chúng tôi hay rằng tàu Đằng Huy chắc hẳn nằm cách đây hai chục hải lý mạn Bắc, rằng chúng tôi vừa qua đêm gần kề hai chiếc thuyền buồm đánh cắp giấu ở trong đảo, và thêm một tin nữa là dân địa phương mấy hôm nay quá lo sợ bỏ bờ biển mà đi rồi.
Người An Nam không thể nào nom thấy thuyền buồm mà không khỏi ngờ là thuyền cướp biển, và tôi cũng có xu hướng nghĩ rằng mấy con thuyền ấy cũng hành sự như thế thật nếu gặp dịp, nhưng làm thế nào nhận diện? Và giả dụ thuyền người Hoa và người Nam có giấy tờ hoặc giấy chuyển hàng hợp lệ đi nữa, thử hỏi ai có thể đứng ra bảo đảm đây? Chính phủ, tức là đám quan lại, có vẻ không hề nao núng, cướp biển là chuyện thường tình như chuyện trộm cắp thôi. Hai phía cùng có lợi, theo cách của mình, mặc xác mọi người hoặc mặc xác Nhà nước. Cướp Hoa đáng sợ hơn cướp Nam và được hưởng ân xá hoàn toàn. Một chiếc tàu ngoại quốc có lần tóm được một chiếc thuyền cướp biển người Hoa đem giao nộp cho triều đình Huế, tại đây người ta thả chúng nó ngay, một là để khỏi gây rắc rối với Trung Hoa, hai là để dung dưỡng bọn cướp này thành đồng minh hữu dụng đối đầu với một kẻ thù trăm lần đáng sợ hơn: người Pháp. Người An Nam đủ trí óc để không chỉ nhắm phóng thích đám kia đâu; họ trưng dụng chúng nó, và cậu Thân nhất mực bảo rằng, trên đám thuyền Hoa phụng sự cho hoàng thượng ở Thuận An, già nửa số người là chính chúng nó, và chúng nó về sau chỉ cướp bóc khi tìm được phe cánh che chở mà thôi. (Bửu Ý dịch)
NGƯỜI HOA & GIỚI QUAN CHỨC ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII -XIX
Sự có mặt của người Hoa trên đất Việt là điều không phụ thuộc vào ý muốn của ai. Dân hai xứ sống cạnh nhau, nên quan hệ với nhau là chuyện tự nhiên. Cái cách mà người Hoa có mặt ở xã hội Việt từ nhiều đời nay là rất khó chịu. Nhưng tại sao nó lại kéo dài với nghĩa họ ngày càng lấn tới.
Để cắt nghĩa có lúc tôi đã nêu giả thiết sau đây để làm việc.
Theo tôi, trong trường hợp này, nhân tố Trung Hoa là sự cần thiết cho xã hội Việt Nam
Vừa nghĩ xong đã thấy ngần ngại, không muốn tiếp tục đi sâu thêm.
Nhưng thôi đã nghĩ xin cứ nói.
Cả ở các đô thị Đàng Trong cũng như Đàng ngoài, người Hoa đến đây và làm nhiều nghề từ mở cửa hàng tạp hóa, đồ tể, thợ may, cho đến mở đại lý thu mua hàng nông thôn và cho vay lấy lãi ... Nhờ họ mà phố xá có đủ các mặt hàng nhập từ Anh Hồng Kông chưa kể là hàng Tàu.
Cả cuốn sách “Vương quốc Annam và người Annam” của J.L. Dutrueil De Rhins mà tôi nói trong bài trước cũng như các ghi chép của nhiều người Âu đến Sài Gòn trong các thế kỷ từ XVII đến XIX đã in rải rác ở ta mấy chục năm nay đều mô tả như vậy.
Những người Hoa ít ỏi này kiếm được nhiều tiền hơn người Việt và tự coi như chủ nhân thành phố.
Đúng ra trong khi người Việt là cả một đám đông không có mặt, thì họ là cái xã hội công dân thực sự.
Quan lại phong kiến lương bổng không bao nhiêu, có người dân trong tay thật, có thể đánh họ giết họ làm nhục họ nhưng gần như không thể bóp nặn gì được họ.
Vua quan ngầm bảo nhau phải quay sang người Hoa để tìm đường sống. Trong cuốn nhật ký tôi đang nói có một chi tiết nho nhỏ đáng chú ý.
Nhiều người Pháp khi mới sang cần người giúp việc. Đến thế kỷ XX này, việc đào tạo người giúp việc đúng chuẩn quốc tế ở Việt Nam còn khó khăn, nữa là mấy thế kỷ trước. Ai thay vào chỗ đó, chính là người Hoa.
Tác giả J.L. Dutrueil De Rhins kể lương của người Hoa giúp việc cho ông ta bằng lương của triều đình phong kiến ở Huế trả cho quan chức đứng đầu lục bộ, thế thì làm gì giới chức địa phương không bám lấy người Hoa mà sống.
* * *
Trong bài viết nhắc lạị việc người Hoa buôn bán ở Đà Nẵng trong cuốn sách của toàn quyền Doumier, tôi đã lưu ý thái độ đối với người nước ngoài là chỗ khác nhau một trời một vực giữa người Việt và người Tàu.
Với đám tây phương đến buôn bán hay dòm ngó gây chiến, trong khi người Việt là dân địa phương lảng tránh hay nghi kỵ thì người Tàu dù là dân ngoại nhập ăn đậu ở nhờ lại tỏ ra linh hoạt chủ động trong tiếp xúc.
Đọc một số hương ước, đã thấy có điều khoản đại ý nói khi có người lạ tới làng cấm người dân thường không được tiếp xúc, trái lệnh sẽ lĩnh đủ hình phạt.
Khi quản lý quốc gia, giới quan chức -- và mở rộng ra, cái mà ta hay gọi một cách đầy căm hờn là “bè lũ thống trị”, thực chất là những người quản lý xã hội ở ta trong quá khứ -- cũng giữ cái lệ như vậy.
Nhưng xét một phía khác phải thấy việc cấm đoán nói trên lại làm mất đi sự tiếp xúc tự nhiên giữa các cộng đồng và bằng cách đó, giới chóp bu xã hội đã tự chặt chân chặt tay mình, tự mình hại mình.
Họ mất những sợi dây ăng-ten cần thiết.
Bị cấm đoán, con người ở các tầng lớp dưới đáy thực chất là đông đảo nhân dân mất hết tự tin không đủ sức nói chuyện với người lạ đừng nói chi là theo cấp trên chống lại đám ngoại nhập cũ và mới.
Bấy giờ giờ giới quan chức lại phải – dù rất căm ghét -- dựa vào người Tàu.
Trong những cuộc tiếp xúc chính thức đầu tiên phía ta rất thiếu phiên dịch. Mà Hoa kiều thì bằng thiên tính dân tộc của họ, đã có đủ điều kiện để vừa làm việc này giúp đỡ hai bên vừa thao túng kiếm lời.
Khi bắt buộc phải lựa chọn Hoa kiều làm trung gian -- thực chất là làm cái tai để nghe cái mắt để nhìn, bộ óc để nghĩ cho mình --, giới quan chức có thể khó chịu một chút.
Nhưng trong đó thả nào chẳng có người tặc lưỡi nghĩ thà phụ thuộc người Hoa còn hơn để dân đen bên dưới có quyền tiếp xúc tự nhiên với Tây phương, nó mất đi cái đất kiếm ăn đời đời mà dòng họ hay phe phái phải chinh chiến mãi mới giành được.
Họ không còn nghĩ gì về chủ quyền quốc gia nữa.
Giả sử có ai đặt vấn đề, họ sẽ nói dối, và trước tiên, mỗi người nói dối chính mình, mọi người cùng nói dối nhau.
* * *
Trước thời gian chuyến J.L. Dutrueil De Rhins đến VN làm việc, có một người Anh là Crawfurd – ông này có thời gian làm toàn quyền Singapore - cũng đã đến cả Vũng Tàu lẫn Đà Nẵng, Huế.
Crawfurd kể lúc tới Sài Gòn trong lúc ông đang thơ thẩn thì ba gia đình Trung Hoa thuộc loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi.
Bên trong những ngôi nhà của họ trông thật rộng rãi, đồ đạc rất nhiều và tiện nghi cũng rất đầy đủ.
Và Crawfurd lại càng lấy làm ngạc nhiên khi thấy họ đã làm những bữa ăn thịnh soạn để thết đãi không những ông và đoàn tùy tùng và cả những sĩ quan Ấn và Việt theo hầu nữa.
Những người Trung Hoa đó, tự giới thiệu là con cháu của những người đã di cư từ Trung quốc sang từ hàng mấy thế kỷ trước, những người đó đã khiến Crawfurd cảm phục, ông đã mô tả họ như những người “rất thông minh và lịch thiệp”.
Câu chuyện của Crawfurd tôi dẫn ra ở trên là lấy từ các bài giảng của Patrick J. Honey “Việt Nam vào thế kỷ 19 qua hồi ký của Jhon White, John Crawfurd, George Gibson” in trong “Nghiên cứu Huế” tập I, 1999.
Đoạn cuối bài này được Honey còn dẫn ra một chi tiết về một phái đoàn VN qua Miến để bàn bạc với người Miến về việc cùng tấn công Xiêm La.
Tác giả cho biết “phái đoàn Việt Nam gồm ba vị đại thần, một viên bí thư và một đoàn tùy tùng chừng 70 người.
Người ta cũng lấy làm lạ rằng có sự lãnh đạo của một người mà dân Miến gọi là Ông Kinh vì ông ta là người Trung Hoa chứ không phải là gốc Việt.
Phụ thân ông là một tên giặc Tầu đã từ miền nam Trung Quốc đi xuống và đặt hành dinh ở Côn Lôn. Ở đó ông [bố] này đã gặp vua Gia long bấy giờ đang lẩn trốn quân Tây Sơn và ông đã hứa giúp đỡ vua. Tức thời vua Gia Long bổ nhiệm ông làm thủy sư đô đốc hạm đội từ đó.”
Mẩu chuyện này cho thấy người Tầu đã can thiệp vào các việc cơ mật của quốc gia, mối quan hệ họ với đám chóp bu đã bắt rễ từ trong chiến tranh, tức kéo dài qua nhiều thế hệ, và ngày càng có sức chi phối mạnh mẽ.
Trong một dịp khác tôi sẽ nói thêm về việc người Trung Hoa giúp bộ máy quản lý quốc gia thực thi việc cai trị như thế nào.
Nhưng đến đây qua ba điểm nói trên đã có thể tạm kết luận rằng trong các thế kỷ XVII- XIX, Hoa kiều đã trở thành yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và duy trì quyền lực của giới quan chức Đàng trong.
Mà cần cho giới quan chức là cần cho xã hội Việt Nam chứ gì, vì bộ máy quan chức thời nào cũng chính là cái động cơ dắt dẫn xã hộ
Vương Trí Nhàn giới thiệu
LÀM GIÀU NGAY TRONG CHIẾN TRANH, TRƯỜNG HỢP MỘT NGƯỜI HOA Ở ĐÀ NẴNG 1858
Xứng với cái tên gọi tổng quát “Xứ Đông dương thuộc Pháp’, cuốn hồi ký của Paul Doumer quả thật bề bộn tài liệu. Tuy vậy tác giả vẫn dành tới bốn trang chữ nhỏ (từ 98 tới hết 101) để nói về một chuyện liên quan tới khâu hậu cần trong những ngày đầu của cuộc chinh phục, tức là khi chiến thuyền của Pháp tới Đà Nẵng.
Chuyện này, do Bichot, về sau từng là Tổng tư lệnh quân đoàn Pháp ở Đông dương kể lại.
Theo Doumer nó không chỉ cho thấy sự có mặt của người Hoa ngay cả ở những nơi ngoài biên giới nước họ mà còn “sự tháo vát và tinh thần thương mại” của họ “cách thức giúp họ len lỏi vào mọi nơi” kể cả những nơi tưởng không có chỗ cho buôn bán.
Chuyện kể rằng khi đội quân trong đó có trung úy thủy quân lục chiến Bichot tới Đà Nẵng, khu vực này lúc đó còn là một làng chài hoang vắng. Chưa được hai ngày thì thấy một chiếc thuyền nhỏ xuất hiện, trên thuyền có một người Hoa mang theo một túi nhỏ.
Khi xin được phép mở cái đẫy ra để bán các thứ hàng mà đám quân viễn chinh cần, anh ta bầy ra đủ cả kim chỉ cúc áo, thuốc lá xà phòng, bút chì bút mực và quản bút, giấy, những lọ mực nho nhỏ, cuối cùng là hai chai rượu mùi.
Mặc dù rất thích tôi vẫn không thể chép ra đầy đủ đoạn văn hơn hai ngàn chữ này. Ta hay nghĩ các chính khách là những kẻ rất khô khan không bao giờ để ý những chi tiết một phần. Mà chắc chắn hơn – trừ những trường hợp mị dân - còn phần đông họ muốn giấu mình đi để cho thiên hạ càng thấy mình xa lạ càng hay.
Đằng này Doumer, người từng đứng đầu xứ Đông dương (1897-19020) và về sau từng ngồi ghế tổng thống Pháp 1931-32, ông tác giả hồi ký này lại có một bút pháp hết sức sinh động, nhất là trong những chi tiết miêu tả, nó là dấu hiệu của một óc quan sát sắc sảo.
A - Tác tên người Hoa nọ được Doumer xác định như một kẻ khôn ngoan lõi đời tháo vát giỏi tổ chức công việc.
Ngay trong chuyến hàng đầu tiên, các chiến binh người Pháp nhận ra là đã gặp anh ta ở Quảng Châu, trong một quán hàng mà vị con dân của thiên tử nhà Thanh này mở gần các trại lính Pháp – lúc này Pháp cũng đang có mặt ở miền Nam Trung Hoa.
Công việc tiếp tế kéo dài tới khi Pháp tạm rút. Doumer dẫn lại lời Bichot.
"Một vài tuần sau đó chúng tôi gặp lại A - Tac, nhưng lần này trong một cửa hàng đẹp đẽ đặt ngay tại nhà anh ta ở Nam Kỳ. Hai mươi năm sau, khi tôi trở lại Đông dương, với chức đại tá chỉ huy trưởng trung đoàn lính khố đỏ An nam, tôi thấy A-Tac đã thành một trong những thương nhân lớn nhất của Sài Gòn. Ít lâu sau A-Tac qua đời nhưng cửa hiệu của anh ta vẫn còn" (cuối trang 101)
* * *
Để hiểu về sự giàu có của người Việt mình, rất nên so sánh với sự giàu có của người Trung Hoa, đấy là một chủ đề tôi đã nêu đây đó và đã được một vài bạn đọc đồng tình.
Trong cái đề tài quá rộng này, nếu ta chỉ nói tới việc làm thương nghiệp của người Hoa, thì chắc chắn cũng là quá sức với bất cứ ai.
Ở đây, tôi chỉ muốn dừng lại ở một hai ý tưởng cụ thể:
+ người Trung Hoa giàu không chỉ vì bên cạnh việc sản xuất ở đó CON NGƯỜI NGHỀ NGHIỆP của họ phát triển mà còn vì họ biết tổ chức lưu thông và phân phối
+ mà chung quanh câu chuyện lưu thông phân phối, nếu chỉ nói rằng họ năng động linh hoạt còn quá đơn giản, cái chính là họ có một cách nghĩ tổng quát rộng rãi về cuộc sống về xã hội.
Nói cho to tát ra , quan niệm về sứ mệnh làm người và nhu cầu của con người ở họ đã phát triển.
Câu chuyện về anh thương nhân người Hoa trong cuộc chiến tranh ở VN cuối XIX đã nói lên điều đó.
Đối với anh ta sự buôn bán là điều thiêng liêng nhất của cuộc sống. Nó quan trọng hơn tất cả mọi điều. Bởi nó là nhu cầu của tất cả mọi người cũng như sự phát triển là nhu cầu của mọi cộng đồng. Chiến tranh, dù quan trọng đến đâu cũng chỉ là chốc lát, chỉ phát triển mới là vĩnh viễn. Kẻ thắng trong buôn bán sẽ là kẻ thắng trong mọi cuộc chiến tranh, họ thắng trong cuộc đời này nói chung.
* * *
Nói tiếp câu chuyện mà Doumer vừa kể. Sau chuyến đi lần đầu, người Hoa nọ còn có mấy chuyến tiếp theo, mang đủ các thứ hàng và lần nào cũng được những người An Nam “trần như nhộng” tiếp sức.
Có lần A-Tac mang theo một buồng chuối, do một người An Nam cõng. Hãy so sánh hai vai chính.
Một bên A Tac linh hoạt chủ động luôn luôn nở nụ cười vui vẻ và cả những cái nháy mắt của kẻ “đi guốc vào bụng mọi người’.
Còn anh nông dân địa phương thì hiện ra ngờ nghệch có vẻ như hoàn toàn không hiểu điều gì đã xảy ra.
Theo Bichot, thoạt đầu anh nằm cuộn tròn trên bãi có, đôi mắt trợn tròn như gặp hổ. Nhưng mà kìa... hổ biết ăn chuối, việc đó có vẻ khiến anh an tâm, tiếp theo là nỗi tò mò muốn biết những người lính kia là thế nào.
Nhưng chỉ có thế. Không bao giờ anh ta trở thành một thứ A Tác.
Câu chuyện trên xảy ra hơn một thế kỷ trước, mà sao vẫn là một gợi ý tốt để ta cùng nghĩ về ngày hôm nay, Tình thế bảo khác cũng đúng mà giống nguyên như cũ cũng đúng. Dù trên danh nghĩa, con cháu “người An Nam” kia đã trở thành chủ nhân ông đất nước này, nhưng thực tế điều gì đang xảy ra, chúng ta đều biết. Đã đến thời mà những nhiệt tình yêu nước là không đủ nữa, để phát triển đất nước cần có một cách nghĩ khác so với cách nghĩ những năm chiến tranh. Nhưng chúng ta chỉ biết tiếp tục cách làm cách nghĩ của ngày hôm qua, chả biết học ai và trước tiên không biết mình là thế nào, thế giới này là thế nào.
Rồi chúng ta khác được bao nhiêu so với ông cha ta 1858?
Rồi chúng ta sẽ đi tới đâu?
NGƯỜI HOA Ở KINH THÀNH HUẾ CUỐI THẾ KỶ XIX QUA CON MẮT CỦA MỘT NGƯỜI PHÁP
Dưới nhan đề “Huế những năm 1876 – 1877 “, số 5-2003 và các số tiếp theo của tạp chí “Nghiên cứu Huế” giới thiệu cuốn “Vương quốc Annam và người Annam” của J.L. Dutrueil De Rhins.
Được viết từ 1879 song những trang nhật ký hành trình này gợi cho chúng ta những nét khái quát về nước Việt thời ấy từ đó giúp ta hiểu một vài phương diện tình hình hôm nay. Nào là một đám đông sống lười biếng uể oải nhưng lại luôn luôn náo động vì chuyện cướp bóc. Nào là người Hoa thì làm chủ mọi sinh hoạt kinh tế và do đó thao túng cả các mặt quan hệ khác.
Dưới đây là phần trích dịch hai đoạn ngắn:
* * *
Con đường mở ra trước mặt hai cây cầu hai bên là tiệm người Hoa. Chính phủ An Nam vốn nghi ngại người ngoại quốc lại mở cửa đối với người Hoa, nhưng chỉ cho phép họ ở mức độ thấp. Tại Bắc Kỳ, đông người Hoa hơn, có lẽ không đến mười ngàn người Hoa, và trong mỗi tỉnh ở Trung Kỳ, có không đến năm trăm. Và như thế, ở Huế có khoảng hai trăm người ở Thuận An, phần lớn rải rác trên thuyền bè người Hoa hoặc làm việc cho hoàng thượng, từ trăm rưỡi đến trăm tám ở Chợ Được và chưa tới hai chục người ở chung quanh. Đó là chưa kể ba chục người Hoa từ Sài Gòn ra xây nhà cho phái bộ mới của Pháp. Dù không đông, người Hoa đã chiếm lĩnh phần thương mại quan trọng; các tiệm ở Chợ Được của họ rất giống với những cửa hàng tạp hóa: ta bắt gặp ở đây nhiều hơn hết là vải Tàu và Anh, lụa và cô tông, đồ sành, gốm, đồ gỗ, trà, thuốc phiện, lương khô Tàu, thuốc hút, giấy, đồ chơi, các món thờ cúng, dụng cụ làm bếp… Các người Hoa đến từ nhiều tỉnh khác nhau: Hải Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến… và có vẻ đoàn kết với nhau lắm, dù thuộc nhiều tín ngưỡng khác nhau. Nơi họ nhận thấy sự kiêu hãnh nòi giống và ý thức khả năng trên hẳn người An Nam. Các người Hoa chỉ rặt buôn bán này, vốn chẳng lãnh sự hay tập đoàn gì bảo vệ mình, vẫn đi đứng ngẩng cao đầu trước mặt người An Nam, quan lớn, quan nhỏ gì cũng thế, không nhường bước cho ai, biểu lộ một thứ thương hại trịch thượng đối với người bản xứ, và càng được nể nang hơn thêm.
* * *
Đoạn dưới đây dành để nói về đám cướp bể người Hoa và cách nhà Nguyễn dùng họ để trị dân và chống lại quân Pháp:
MỘT LẦN ĐI CỨU THUYỀN
Nói chung lính canh An Nam canh phòng kém, luôn cả khi họ đông người và luôn cả khi trời tốt. Chẳng phải là ngủ hoài mà họ lại chồm hổm, gà gật gần như là ngủ vậy, chẳng cần biết chuyện gì xảy ra chung quanh, chỉ chăm chăm chờ đến giây phút những cây gậy của quan trên quất vào lưng mà thôi. Toàn một tuồng vờ vịt nơi đám người u mê này.
Khi tôi trở lên boong, sớm hôm sau, vị chỉ huy người Nam và Cocles vui vẻ đến bắt tay tôi và chuúng tôi duyệt hàng ngũ bầy con rối. Cả bầy đều trang bị, kẻ dáo người gươm hoặc súng bắn đá. Tôi nảy ra ý nghĩ bắt tháo đạn ra: vì trời hồi đêm có phần ẩm ướt, chẳng nghe phát súng nào, và tôi chuồn gấp để khỏi phì cười vào mặt viên tướng phường tuồng kia.
Một lát sau, một chiếc tam bản chèo tới bên hông, và chủ thuyền cho chúng tôi hay rằng tàu Đằng Huy chắc hẳn nằm cách đây hai chục hải lý mạn Bắc, rằng chúng tôi vừa qua đêm gần kề hai chiếc thuyền buồm đánh cắp giấu ở trong đảo, và thêm một tin nữa là dân địa phương mấy hôm nay quá lo sợ bỏ bờ biển mà đi rồi.
Người An Nam không thể nào nom thấy thuyền buồm mà không khỏi ngờ là thuyền cướp biển, và tôi cũng có xu hướng nghĩ rằng mấy con thuyền ấy cũng hành sự như thế thật nếu gặp dịp, nhưng làm thế nào nhận diện? Và giả dụ thuyền người Hoa và người Nam có giấy tờ hoặc giấy chuyển hàng hợp lệ đi nữa, thử hỏi ai có thể đứng ra bảo đảm đây? Chính phủ, tức là đám quan lại, có vẻ không hề nao núng, cướp biển là chuyện thường tình như chuyện trộm cắp thôi. Hai phía cùng có lợi, theo cách của mình, mặc xác mọi người hoặc mặc xác Nhà nước. Cướp Hoa đáng sợ hơn cướp Nam và được hưởng ân xá hoàn toàn. Một chiếc tàu ngoại quốc có lần tóm được một chiếc thuyền cướp biển người Hoa đem giao nộp cho triều đình Huế, tại đây người ta thả chúng nó ngay, một là để khỏi gây rắc rối với Trung Hoa, hai là để dung dưỡng bọn cướp này thành đồng minh hữu dụng đối đầu với một kẻ thù trăm lần đáng sợ hơn: người Pháp. Người An Nam đủ trí óc để không chỉ nhắm phóng thích đám kia đâu; họ trưng dụng chúng nó, và cậu Thân nhất mực bảo rằng, trên đám thuyền Hoa phụng sự cho hoàng thượng ở Thuận An, già nửa số người là chính chúng nó, và chúng nó về sau chỉ cướp bóc khi tìm được phe cánh che chở mà thôi. (Bửu Ý dịch)
NGƯỜI HOA & GIỚI QUAN CHỨC ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII -XIX
Sự có mặt của người Hoa trên đất Việt là điều không phụ thuộc vào ý muốn của ai. Dân hai xứ sống cạnh nhau, nên quan hệ với nhau là chuyện tự nhiên. Cái cách mà người Hoa có mặt ở xã hội Việt từ nhiều đời nay là rất khó chịu. Nhưng tại sao nó lại kéo dài với nghĩa họ ngày càng lấn tới.
Để cắt nghĩa có lúc tôi đã nêu giả thiết sau đây để làm việc.
Theo tôi, trong trường hợp này, nhân tố Trung Hoa là sự cần thiết cho xã hội Việt Nam
Vừa nghĩ xong đã thấy ngần ngại, không muốn tiếp tục đi sâu thêm.
Nhưng thôi đã nghĩ xin cứ nói.
Cả ở các đô thị Đàng Trong cũng như Đàng ngoài, người Hoa đến đây và làm nhiều nghề từ mở cửa hàng tạp hóa, đồ tể, thợ may, cho đến mở đại lý thu mua hàng nông thôn và cho vay lấy lãi ... Nhờ họ mà phố xá có đủ các mặt hàng nhập từ Anh Hồng Kông chưa kể là hàng Tàu.
Cả cuốn sách “Vương quốc Annam và người Annam” của J.L. Dutrueil De Rhins mà tôi nói trong bài trước cũng như các ghi chép của nhiều người Âu đến Sài Gòn trong các thế kỷ từ XVII đến XIX đã in rải rác ở ta mấy chục năm nay đều mô tả như vậy.
Những người Hoa ít ỏi này kiếm được nhiều tiền hơn người Việt và tự coi như chủ nhân thành phố.
Đúng ra trong khi người Việt là cả một đám đông không có mặt, thì họ là cái xã hội công dân thực sự.
Quan lại phong kiến lương bổng không bao nhiêu, có người dân trong tay thật, có thể đánh họ giết họ làm nhục họ nhưng gần như không thể bóp nặn gì được họ.
Vua quan ngầm bảo nhau phải quay sang người Hoa để tìm đường sống. Trong cuốn nhật ký tôi đang nói có một chi tiết nho nhỏ đáng chú ý.
Nhiều người Pháp khi mới sang cần người giúp việc. Đến thế kỷ XX này, việc đào tạo người giúp việc đúng chuẩn quốc tế ở Việt Nam còn khó khăn, nữa là mấy thế kỷ trước. Ai thay vào chỗ đó, chính là người Hoa.
Tác giả J.L. Dutrueil De Rhins kể lương của người Hoa giúp việc cho ông ta bằng lương của triều đình phong kiến ở Huế trả cho quan chức đứng đầu lục bộ, thế thì làm gì giới chức địa phương không bám lấy người Hoa mà sống.
* * *
Trong bài viết nhắc lạị việc người Hoa buôn bán ở Đà Nẵng trong cuốn sách của toàn quyền Doumier, tôi đã lưu ý thái độ đối với người nước ngoài là chỗ khác nhau một trời một vực giữa người Việt và người Tàu.
Với đám tây phương đến buôn bán hay dòm ngó gây chiến, trong khi người Việt là dân địa phương lảng tránh hay nghi kỵ thì người Tàu dù là dân ngoại nhập ăn đậu ở nhờ lại tỏ ra linh hoạt chủ động trong tiếp xúc.
Đọc một số hương ước, đã thấy có điều khoản đại ý nói khi có người lạ tới làng cấm người dân thường không được tiếp xúc, trái lệnh sẽ lĩnh đủ hình phạt.
Khi quản lý quốc gia, giới quan chức -- và mở rộng ra, cái mà ta hay gọi một cách đầy căm hờn là “bè lũ thống trị”, thực chất là những người quản lý xã hội ở ta trong quá khứ -- cũng giữ cái lệ như vậy.
Nhưng xét một phía khác phải thấy việc cấm đoán nói trên lại làm mất đi sự tiếp xúc tự nhiên giữa các cộng đồng và bằng cách đó, giới chóp bu xã hội đã tự chặt chân chặt tay mình, tự mình hại mình.
Họ mất những sợi dây ăng-ten cần thiết.
Bị cấm đoán, con người ở các tầng lớp dưới đáy thực chất là đông đảo nhân dân mất hết tự tin không đủ sức nói chuyện với người lạ đừng nói chi là theo cấp trên chống lại đám ngoại nhập cũ và mới.
Bấy giờ giờ giới quan chức lại phải – dù rất căm ghét -- dựa vào người Tàu.
Trong những cuộc tiếp xúc chính thức đầu tiên phía ta rất thiếu phiên dịch. Mà Hoa kiều thì bằng thiên tính dân tộc của họ, đã có đủ điều kiện để vừa làm việc này giúp đỡ hai bên vừa thao túng kiếm lời.
Khi bắt buộc phải lựa chọn Hoa kiều làm trung gian -- thực chất là làm cái tai để nghe cái mắt để nhìn, bộ óc để nghĩ cho mình --, giới quan chức có thể khó chịu một chút.
Nhưng trong đó thả nào chẳng có người tặc lưỡi nghĩ thà phụ thuộc người Hoa còn hơn để dân đen bên dưới có quyền tiếp xúc tự nhiên với Tây phương, nó mất đi cái đất kiếm ăn đời đời mà dòng họ hay phe phái phải chinh chiến mãi mới giành được.
Họ không còn nghĩ gì về chủ quyền quốc gia nữa.
Giả sử có ai đặt vấn đề, họ sẽ nói dối, và trước tiên, mỗi người nói dối chính mình, mọi người cùng nói dối nhau.
* * *
Trước thời gian chuyến J.L. Dutrueil De Rhins đến VN làm việc, có một người Anh là Crawfurd – ông này có thời gian làm toàn quyền Singapore - cũng đã đến cả Vũng Tàu lẫn Đà Nẵng, Huế.
Crawfurd kể lúc tới Sài Gòn trong lúc ông đang thơ thẩn thì ba gia đình Trung Hoa thuộc loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi.
Bên trong những ngôi nhà của họ trông thật rộng rãi, đồ đạc rất nhiều và tiện nghi cũng rất đầy đủ.
Và Crawfurd lại càng lấy làm ngạc nhiên khi thấy họ đã làm những bữa ăn thịnh soạn để thết đãi không những ông và đoàn tùy tùng và cả những sĩ quan Ấn và Việt theo hầu nữa.
Những người Trung Hoa đó, tự giới thiệu là con cháu của những người đã di cư từ Trung quốc sang từ hàng mấy thế kỷ trước, những người đó đã khiến Crawfurd cảm phục, ông đã mô tả họ như những người “rất thông minh và lịch thiệp”.
Câu chuyện của Crawfurd tôi dẫn ra ở trên là lấy từ các bài giảng của Patrick J. Honey “Việt Nam vào thế kỷ 19 qua hồi ký của Jhon White, John Crawfurd, George Gibson” in trong “Nghiên cứu Huế” tập I, 1999.
Đoạn cuối bài này được Honey còn dẫn ra một chi tiết về một phái đoàn VN qua Miến để bàn bạc với người Miến về việc cùng tấn công Xiêm La.
Tác giả cho biết “phái đoàn Việt Nam gồm ba vị đại thần, một viên bí thư và một đoàn tùy tùng chừng 70 người.
Người ta cũng lấy làm lạ rằng có sự lãnh đạo của một người mà dân Miến gọi là Ông Kinh vì ông ta là người Trung Hoa chứ không phải là gốc Việt.
Phụ thân ông là một tên giặc Tầu đã từ miền nam Trung Quốc đi xuống và đặt hành dinh ở Côn Lôn. Ở đó ông [bố] này đã gặp vua Gia long bấy giờ đang lẩn trốn quân Tây Sơn và ông đã hứa giúp đỡ vua. Tức thời vua Gia Long bổ nhiệm ông làm thủy sư đô đốc hạm đội từ đó.”
Mẩu chuyện này cho thấy người Tầu đã can thiệp vào các việc cơ mật của quốc gia, mối quan hệ họ với đám chóp bu đã bắt rễ từ trong chiến tranh, tức kéo dài qua nhiều thế hệ, và ngày càng có sức chi phối mạnh mẽ.
Trong một dịp khác tôi sẽ nói thêm về việc người Trung Hoa giúp bộ máy quản lý quốc gia thực thi việc cai trị như thế nào.
Nhưng đến đây qua ba điểm nói trên đã có thể tạm kết luận rằng trong các thế kỷ XVII- XIX, Hoa kiều đã trở thành yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và duy trì quyền lực của giới quan chức Đàng trong.
Mà cần cho giới quan chức là cần cho xã hội Việt Nam chứ gì, vì bộ máy quan chức thời nào cũng chính là cái động cơ dắt dẫn xã hộ
Vương Trí Nhàn giới thiệu
LÀM GIÀU NGAY TRONG CHIẾN TRANH, TRƯỜNG HỢP MỘT NGƯỜI HOA Ở ĐÀ NẴNG 1858
Xứng với cái tên gọi tổng quát “Xứ Đông dương thuộc Pháp’, cuốn hồi ký của Paul Doumer quả thật bề bộn tài liệu. Tuy vậy tác giả vẫn dành tới bốn trang chữ nhỏ (từ 98 tới hết 101) để nói về một chuyện liên quan tới khâu hậu cần trong những ngày đầu của cuộc chinh phục, tức là khi chiến thuyền của Pháp tới Đà Nẵng.
Chuyện này, do Bichot, về sau từng là Tổng tư lệnh quân đoàn Pháp ở Đông dương kể lại.
Theo Doumer nó không chỉ cho thấy sự có mặt của người Hoa ngay cả ở những nơi ngoài biên giới nước họ mà còn “sự tháo vát và tinh thần thương mại” của họ “cách thức giúp họ len lỏi vào mọi nơi” kể cả những nơi tưởng không có chỗ cho buôn bán.
Chuyện kể rằng khi đội quân trong đó có trung úy thủy quân lục chiến Bichot tới Đà Nẵng, khu vực này lúc đó còn là một làng chài hoang vắng. Chưa được hai ngày thì thấy một chiếc thuyền nhỏ xuất hiện, trên thuyền có một người Hoa mang theo một túi nhỏ.
Khi xin được phép mở cái đẫy ra để bán các thứ hàng mà đám quân viễn chinh cần, anh ta bầy ra đủ cả kim chỉ cúc áo, thuốc lá xà phòng, bút chì bút mực và quản bút, giấy, những lọ mực nho nhỏ, cuối cùng là hai chai rượu mùi.
Mặc dù rất thích tôi vẫn không thể chép ra đầy đủ đoạn văn hơn hai ngàn chữ này. Ta hay nghĩ các chính khách là những kẻ rất khô khan không bao giờ để ý những chi tiết một phần. Mà chắc chắn hơn – trừ những trường hợp mị dân - còn phần đông họ muốn giấu mình đi để cho thiên hạ càng thấy mình xa lạ càng hay.
Đằng này Doumer, người từng đứng đầu xứ Đông dương (1897-19020) và về sau từng ngồi ghế tổng thống Pháp 1931-32, ông tác giả hồi ký này lại có một bút pháp hết sức sinh động, nhất là trong những chi tiết miêu tả, nó là dấu hiệu của một óc quan sát sắc sảo.
A - Tác tên người Hoa nọ được Doumer xác định như một kẻ khôn ngoan lõi đời tháo vát giỏi tổ chức công việc.
Ngay trong chuyến hàng đầu tiên, các chiến binh người Pháp nhận ra là đã gặp anh ta ở Quảng Châu, trong một quán hàng mà vị con dân của thiên tử nhà Thanh này mở gần các trại lính Pháp – lúc này Pháp cũng đang có mặt ở miền Nam Trung Hoa.
Công việc tiếp tế kéo dài tới khi Pháp tạm rút. Doumer dẫn lại lời Bichot.
"Một vài tuần sau đó chúng tôi gặp lại A - Tac, nhưng lần này trong một cửa hàng đẹp đẽ đặt ngay tại nhà anh ta ở Nam Kỳ. Hai mươi năm sau, khi tôi trở lại Đông dương, với chức đại tá chỉ huy trưởng trung đoàn lính khố đỏ An nam, tôi thấy A-Tac đã thành một trong những thương nhân lớn nhất của Sài Gòn. Ít lâu sau A-Tac qua đời nhưng cửa hiệu của anh ta vẫn còn" (cuối trang 101)
* * *
Để hiểu về sự giàu có của người Việt mình, rất nên so sánh với sự giàu có của người Trung Hoa, đấy là một chủ đề tôi đã nêu đây đó và đã được một vài bạn đọc đồng tình.
Trong cái đề tài quá rộng này, nếu ta chỉ nói tới việc làm thương nghiệp của người Hoa, thì chắc chắn cũng là quá sức với bất cứ ai.
Ở đây, tôi chỉ muốn dừng lại ở một hai ý tưởng cụ thể:
+ người Trung Hoa giàu không chỉ vì bên cạnh việc sản xuất ở đó CON NGƯỜI NGHỀ NGHIỆP của họ phát triển mà còn vì họ biết tổ chức lưu thông và phân phối
+ mà chung quanh câu chuyện lưu thông phân phối, nếu chỉ nói rằng họ năng động linh hoạt còn quá đơn giản, cái chính là họ có một cách nghĩ tổng quát rộng rãi về cuộc sống về xã hội.
Nói cho to tát ra , quan niệm về sứ mệnh làm người và nhu cầu của con người ở họ đã phát triển.
Câu chuyện về anh thương nhân người Hoa trong cuộc chiến tranh ở VN cuối XIX đã nói lên điều đó.
Đối với anh ta sự buôn bán là điều thiêng liêng nhất của cuộc sống. Nó quan trọng hơn tất cả mọi điều. Bởi nó là nhu cầu của tất cả mọi người cũng như sự phát triển là nhu cầu của mọi cộng đồng. Chiến tranh, dù quan trọng đến đâu cũng chỉ là chốc lát, chỉ phát triển mới là vĩnh viễn. Kẻ thắng trong buôn bán sẽ là kẻ thắng trong mọi cuộc chiến tranh, họ thắng trong cuộc đời này nói chung.
* * *
Nói tiếp câu chuyện mà Doumer vừa kể. Sau chuyến đi lần đầu, người Hoa nọ còn có mấy chuyến tiếp theo, mang đủ các thứ hàng và lần nào cũng được những người An Nam “trần như nhộng” tiếp sức.
Có lần A-Tac mang theo một buồng chuối, do một người An Nam cõng. Hãy so sánh hai vai chính.
Một bên A Tac linh hoạt chủ động luôn luôn nở nụ cười vui vẻ và cả những cái nháy mắt của kẻ “đi guốc vào bụng mọi người’.
Còn anh nông dân địa phương thì hiện ra ngờ nghệch có vẻ như hoàn toàn không hiểu điều gì đã xảy ra.
Theo Bichot, thoạt đầu anh nằm cuộn tròn trên bãi có, đôi mắt trợn tròn như gặp hổ. Nhưng mà kìa... hổ biết ăn chuối, việc đó có vẻ khiến anh an tâm, tiếp theo là nỗi tò mò muốn biết những người lính kia là thế nào.
Nhưng chỉ có thế. Không bao giờ anh ta trở thành một thứ A Tác.
Câu chuyện trên xảy ra hơn một thế kỷ trước, mà sao vẫn là một gợi ý tốt để ta cùng nghĩ về ngày hôm nay, Tình thế bảo khác cũng đúng mà giống nguyên như cũ cũng đúng. Dù trên danh nghĩa, con cháu “người An Nam” kia đã trở thành chủ nhân ông đất nước này, nhưng thực tế điều gì đang xảy ra, chúng ta đều biết. Đã đến thời mà những nhiệt tình yêu nước là không đủ nữa, để phát triển đất nước cần có một cách nghĩ khác so với cách nghĩ những năm chiến tranh. Nhưng chúng ta chỉ biết tiếp tục cách làm cách nghĩ của ngày hôm qua, chả biết học ai và trước tiên không biết mình là thế nào, thế giới này là thế nào.
Rồi chúng ta khác được bao nhiêu so với ông cha ta 1858?
Rồi chúng ta sẽ đi tới đâu?
NGƯỜI HOA Ở KINH THÀNH HUẾ CUỐI THẾ KỶ XIX QUA CON MẮT CỦA MỘT NGƯỜI PHÁP
Dưới nhan đề “Huế những năm 1876 – 1877 “, số 5-2003 và các số tiếp theo của tạp chí “Nghiên cứu Huế” giới thiệu cuốn “Vương quốc Annam và người Annam” của J.L. Dutrueil De Rhins.
Được viết từ 1879 song những trang nhật ký hành trình này gợi cho chúng ta những nét khái quát về nước Việt thời ấy từ đó giúp ta hiểu một vài phương diện tình hình hôm nay. Nào là một đám đông sống lười biếng uể oải nhưng lại luôn luôn náo động vì chuyện cướp bóc. Nào là người Hoa thì làm chủ mọi sinh hoạt kinh tế và do đó thao túng cả các mặt quan hệ khác.
Dưới đây là phần trích dịch hai đoạn ngắn:
* * *
Con đường mở ra trước mặt hai cây cầu hai bên là tiệm người Hoa. Chính phủ An Nam vốn nghi ngại người ngoại quốc lại mở cửa đối với người Hoa, nhưng chỉ cho phép họ ở mức độ thấp. Tại Bắc Kỳ, đông người Hoa hơn, có lẽ không đến mười ngàn người Hoa, và trong mỗi tỉnh ở Trung Kỳ, có không đến năm trăm. Và như thế, ở Huế có khoảng hai trăm người ở Thuận An, phần lớn rải rác trên thuyền bè người Hoa hoặc làm việc cho hoàng thượng, từ trăm rưỡi đến trăm tám ở Chợ Được và chưa tới hai chục người ở chung quanh. Đó là chưa kể ba chục người Hoa từ Sài Gòn ra xây nhà cho phái bộ mới của Pháp. Dù không đông, người Hoa đã chiếm lĩnh phần thương mại quan trọng; các tiệm ở Chợ Được của họ rất giống với những cửa hàng tạp hóa: ta bắt gặp ở đây nhiều hơn hết là vải Tàu và Anh, lụa và cô tông, đồ sành, gốm, đồ gỗ, trà, thuốc phiện, lương khô Tàu, thuốc hút, giấy, đồ chơi, các món thờ cúng, dụng cụ làm bếp… Các người Hoa đến từ nhiều tỉnh khác nhau: Hải Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến… và có vẻ đoàn kết với nhau lắm, dù thuộc nhiều tín ngưỡng khác nhau. Nơi họ nhận thấy sự kiêu hãnh nòi giống và ý thức khả năng trên hẳn người An Nam. Các người Hoa chỉ rặt buôn bán này, vốn chẳng lãnh sự hay tập đoàn gì bảo vệ mình, vẫn đi đứng ngẩng cao đầu trước mặt người An Nam, quan lớn, quan nhỏ gì cũng thế, không nhường bước cho ai, biểu lộ một thứ thương hại trịch thượng đối với người bản xứ, và càng được nể nang hơn thêm.
* * *
Đoạn dưới đây dành để nói về đám cướp bể người Hoa và cách nhà Nguyễn dùng họ để trị dân và chống lại quân Pháp:
MỘT LẦN ĐI CỨU THUYỀN
Nói chung lính canh An Nam canh phòng kém, luôn cả khi họ đông người và luôn cả khi trời tốt. Chẳng phải là ngủ hoài mà họ lại chồm hổm, gà gật gần như là ngủ vậy, chẳng cần biết chuyện gì xảy ra chung quanh, chỉ chăm chăm chờ đến giây phút những cây gậy của quan trên quất vào lưng mà thôi. Toàn một tuồng vờ vịt nơi đám người u mê này.
Khi tôi trở lên boong, sớm hôm sau, vị chỉ huy người Nam và Cocles vui vẻ đến bắt tay tôi và chuúng tôi duyệt hàng ngũ bầy con rối. Cả bầy đều trang bị, kẻ dáo người gươm hoặc súng bắn đá. Tôi nảy ra ý nghĩ bắt tháo đạn ra: vì trời hồi đêm có phần ẩm ướt, chẳng nghe phát súng nào, và tôi chuồn gấp để khỏi phì cười vào mặt viên tướng phường tuồng kia.
Một lát sau, một chiếc tam bản chèo tới bên hông, và chủ thuyền cho chúng tôi hay rằng tàu Đằng Huy chắc hẳn nằm cách đây hai chục hải lý mạn Bắc, rằng chúng tôi vừa qua đêm gần kề hai chiếc thuyền buồm đánh cắp giấu ở trong đảo, và thêm một tin nữa là dân địa phương mấy hôm nay quá lo sợ bỏ bờ biển mà đi rồi.
Người An Nam không thể nào nom thấy thuyền buồm mà không khỏi ngờ là thuyền cướp biển, và tôi cũng có xu hướng nghĩ rằng mấy con thuyền ấy cũng hành sự như thế thật nếu gặp dịp, nhưng làm thế nào nhận diện? Và giả dụ thuyền người Hoa và người Nam có giấy tờ hoặc giấy chuyển hàng hợp lệ đi nữa, thử hỏi ai có thể đứng ra bảo đảm đây? Chính phủ, tức là đám quan lại, có vẻ không hề nao núng, cướp biển là chuyện thường tình như chuyện trộm cắp thôi. Hai phía cùng có lợi, theo cách của mình, mặc xác mọi người hoặc mặc xác Nhà nước. Cướp Hoa đáng sợ hơn cướp Nam và được hưởng ân xá hoàn toàn. Một chiếc tàu ngoại quốc có lần tóm được một chiếc thuyền cướp biển người Hoa đem giao nộp cho triều đình Huế, tại đây người ta thả chúng nó ngay, một là để khỏi gây rắc rối với Trung Hoa, hai là để dung dưỡng bọn cướp này thành đồng minh hữu dụng đối đầu với một kẻ thù trăm lần đáng sợ hơn: người Pháp. Người An Nam đủ trí óc để không chỉ nhắm phóng thích đám kia đâu; họ trưng dụng chúng nó, và cậu Thân nhất mực bảo rằng, trên đám thuyền Hoa phụng sự cho hoàng thượng ở Thuận An, già nửa số người là chính chúng nó, và chúng nó về sau chỉ cướp bóc khi tìm được phe cánh che chở mà thôi. (Bửu Ý dịch)
NGƯỜI HOA & GIỚI QUAN CHỨC ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII -XIX
Sự có mặt của người Hoa trên đất Việt là điều không phụ thuộc vào ý muốn của ai. Dân hai xứ sống cạnh nhau, nên quan hệ với nhau là chuyện tự nhiên. Cái cách mà người Hoa có mặt ở xã hội Việt từ nhiều đời nay là rất khó chịu. Nhưng tại sao nó lại kéo dài với nghĩa họ ngày càng lấn tới.
Để cắt nghĩa có lúc tôi đã nêu giả thiết sau đây để làm việc.
Theo tôi, trong trường hợp này, nhân tố Trung Hoa là sự cần thiết cho xã hội Việt Nam
Vừa nghĩ xong đã thấy ngần ngại, không muốn tiếp tục đi sâu thêm.
Nhưng thôi đã nghĩ xin cứ nói.
Cả ở các đô thị Đàng Trong cũng như Đàng ngoài, người Hoa đến đây và làm nhiều nghề từ mở cửa hàng tạp hóa, đồ tể, thợ may, cho đến mở đại lý thu mua hàng nông thôn và cho vay lấy lãi ... Nhờ họ mà phố xá có đủ các mặt hàng nhập từ Anh Hồng Kông chưa kể là hàng Tàu.
Cả cuốn sách “Vương quốc Annam và người Annam” của J.L. Dutrueil De Rhins mà tôi nói trong bài trước cũng như các ghi chép của nhiều người Âu đến Sài Gòn trong các thế kỷ từ XVII đến XIX đã in rải rác ở ta mấy chục năm nay đều mô tả như vậy.
Những người Hoa ít ỏi này kiếm được nhiều tiền hơn người Việt và tự coi như chủ nhân thành phố.
Đúng ra trong khi người Việt là cả một đám đông không có mặt, thì họ là cái xã hội công dân thực sự.
Quan lại phong kiến lương bổng không bao nhiêu, có người dân trong tay thật, có thể đánh họ giết họ làm nhục họ nhưng gần như không thể bóp nặn gì được họ.
Vua quan ngầm bảo nhau phải quay sang người Hoa để tìm đường sống. Trong cuốn nhật ký tôi đang nói có một chi tiết nho nhỏ đáng chú ý.
Nhiều người Pháp khi mới sang cần người giúp việc. Đến thế kỷ XX này, việc đào tạo người giúp việc đúng chuẩn quốc tế ở Việt Nam còn khó khăn, nữa là mấy thế kỷ trước. Ai thay vào chỗ đó, chính là người Hoa.
Tác giả J.L. Dutrueil De Rhins kể lương của người Hoa giúp việc cho ông ta bằng lương của triều đình phong kiến ở Huế trả cho quan chức đứng đầu lục bộ, thế thì làm gì giới chức địa phương không bám lấy người Hoa mà sống.
* * *
Trong bài viết nhắc lạị việc người Hoa buôn bán ở Đà Nẵng trong cuốn sách của toàn quyền Doumier, tôi đã lưu ý thái độ đối với người nước ngoài là chỗ khác nhau một trời một vực giữa người Việt và người Tàu.
Với đám tây phương đến buôn bán hay dòm ngó gây chiến, trong khi người Việt là dân địa phương lảng tránh hay nghi kỵ thì người Tàu dù là dân ngoại nhập ăn đậu ở nhờ lại tỏ ra linh hoạt chủ động trong tiếp xúc.
Đọc một số hương ước, đã thấy có điều khoản đại ý nói khi có người lạ tới làng cấm người dân thường không được tiếp xúc, trái lệnh sẽ lĩnh đủ hình phạt.
Khi quản lý quốc gia, giới quan chức -- và mở rộng ra, cái mà ta hay gọi một cách đầy căm hờn là “bè lũ thống trị”, thực chất là những người quản lý xã hội ở ta trong quá khứ -- cũng giữ cái lệ như vậy.
Nhưng xét một phía khác phải thấy việc cấm đoán nói trên lại làm mất đi sự tiếp xúc tự nhiên giữa các cộng đồng và bằng cách đó, giới chóp bu xã hội đã tự chặt chân chặt tay mình, tự mình hại mình.
Họ mất những sợi dây ăng-ten cần thiết.
Bị cấm đoán, con người ở các tầng lớp dưới đáy thực chất là đông đảo nhân dân mất hết tự tin không đủ sức nói chuyện với người lạ đừng nói chi là theo cấp trên chống lại đám ngoại nhập cũ và mới.
Bấy giờ giờ giới quan chức lại phải – dù rất căm ghét -- dựa vào người Tàu.
Trong những cuộc tiếp xúc chính thức đầu tiên phía ta rất thiếu phiên dịch. Mà Hoa kiều thì bằng thiên tính dân tộc của họ, đã có đủ điều kiện để vừa làm việc này giúp đỡ hai bên vừa thao túng kiếm lời.
Khi bắt buộc phải lựa chọn Hoa kiều làm trung gian -- thực chất là làm cái tai để nghe cái mắt để nhìn, bộ óc để nghĩ cho mình --, giới quan chức có thể khó chịu một chút.
Nhưng trong đó thả nào chẳng có người tặc lưỡi nghĩ thà phụ thuộc người Hoa còn hơn để dân đen bên dưới có quyền tiếp xúc tự nhiên với Tây phương, nó mất đi cái đất kiếm ăn đời đời mà dòng họ hay phe phái phải chinh chiến mãi mới giành được.
Họ không còn nghĩ gì về chủ quyền quốc gia nữa.
Giả sử có ai đặt vấn đề, họ sẽ nói dối, và trước tiên, mỗi người nói dối chính mình, mọi người cùng nói dối nhau.
* * *
Trước thời gian chuyến J.L. Dutrueil De Rhins đến VN làm việc, có một người Anh là Crawfurd – ông này có thời gian làm toàn quyền Singapore - cũng đã đến cả Vũng Tàu lẫn Đà Nẵng, Huế.
Crawfurd kể lúc tới Sài Gòn trong lúc ông đang thơ thẩn thì ba gia đình Trung Hoa thuộc loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi.
Bên trong những ngôi nhà của họ trông thật rộng rãi, đồ đạc rất nhiều và tiện nghi cũng rất đầy đủ.
Và Crawfurd lại càng lấy làm ngạc nhiên khi thấy họ đã làm những bữa ăn thịnh soạn để thết đãi không những ông và đoàn tùy tùng và cả những sĩ quan Ấn và Việt theo hầu nữa.
Những người Trung Hoa đó, tự giới thiệu là con cháu của những người đã di cư từ Trung quốc sang từ hàng mấy thế kỷ trước, những người đó đã khiến Crawfurd cảm phục, ông đã mô tả họ như những người “rất thông minh và lịch thiệp”.
Câu chuyện của Crawfurd tôi dẫn ra ở trên là lấy từ các bài giảng của Patrick J. Honey “Việt Nam vào thế kỷ 19 qua hồi ký của Jhon White, John Crawfurd, George Gibson” in trong “Nghiên cứu Huế” tập I, 1999.
Đoạn cuối bài này được Honey còn dẫn ra một chi tiết về một phái đoàn VN qua Miến để bàn bạc với người Miến về việc cùng tấn công Xiêm La.
Tác giả cho biết “phái đoàn Việt Nam gồm ba vị đại thần, một viên bí thư và một đoàn tùy tùng chừng 70 người.
Người ta cũng lấy làm lạ rằng có sự lãnh đạo của một người mà dân Miến gọi là Ông Kinh vì ông ta là người Trung Hoa chứ không phải là gốc Việt.
Phụ thân ông là một tên giặc Tầu đã từ miền nam Trung Quốc đi xuống và đặt hành dinh ở Côn Lôn. Ở đó ông [bố] này đã gặp vua Gia long bấy giờ đang lẩn trốn quân Tây Sơn và ông đã hứa giúp đỡ vua. Tức thời vua Gia Long bổ nhiệm ông làm thủy sư đô đốc hạm đội từ đó.”
Mẩu chuyện này cho thấy người Tầu đã can thiệp vào các việc cơ mật của quốc gia, mối quan hệ họ với đám chóp bu đã bắt rễ từ trong chiến tranh, tức kéo dài qua nhiều thế hệ, và ngày càng có sức chi phối mạnh mẽ.
Trong một dịp khác tôi sẽ nói thêm về việc người Trung Hoa giúp bộ máy quản lý quốc gia thực thi việc cai trị như thế nào.
Nhưng đến đây qua ba điểm nói trên đã có thể tạm kết luận rằng trong các thế kỷ XVII- XIX, Hoa kiều đã trở thành yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và duy trì quyền lực của giới quan chức Đàng trong.
Mà cần cho giới quan chức là cần cho xã hội Việt Nam chứ gì, vì bộ máy quan chức thời nào cũng chính là cái động cơ dắt dẫn xã hộ
Mời Đọc  1 Bài Của GS.Vương Trí Nhàn

https://www.danluan.org/tin-tuc/20170622/nguoi-hoa-o-dang-trong-truoc-khi-nguoi-phap-co-mat