Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

HỒ XUÂN HƯƠNG - (MẤY BÀI THƠ TẾU)

                                   
          HỒ XUÂN HƯƠNG (tên chữ Hán: 胡春香) là nhà thơ nữ người Việt nổi tiếng. Không có một tài liệu nào ghi chép lại thân thế cũng như năm sinh, năm mất của bà; nhiều nhà nghiên cứu văn học đã cùng đồng ý rằng có thể bà sinh năm 1772 tại làng Quỳnh Đôi, tỉnh Nghệ An và mất năm 1822 tại Thăng Long, Hà Nội. Sống vào giai đoạn cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, nữ thi sĩ HỒ XUÂN HƯƠNG lớn lên trong giai đoạn đất nước có những bất ổn về chính trị và xã hội – thời kỳ cuộc nổi dậy Tây Sơn và một cuộc nội chiến kéo dài ba thập kỷ dẫn tới Nguyễn Ánh đoạt được chính quyền và bắt đầu triều đại nhà Nguyễn. Chính những thay đổi này cùng với tư tưởng "trọng nam khinh nữ" thời phong kiến đã có ảnh hưởng rất lớn tới đề tài sáng tác của HỒ XUÂN HƯƠNG.
         Thơ ca của HỒ XUÂN HƯƠNG được viết bằng chữ Nôm với chất thơ vừa thanh, vừa tục. Đọc thơ bà nếu nghĩ thanh thì rất là thanh; nếu nghĩ tục thì hết sức gợi tục. Các tác phẩm sót lại được cho là của HỒ XUÂN HƯƠNG không nhiều, chỉ còn khoảng vài chục bài. Bà được nhà thơ hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu mệnh danh là "Bà chúa thơ Nôm". HỒ XUÂN HƯƠNG được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam và là một nhà thơ phá cách: nhà thơ nữ viết về phụ nữ thời phong kiến.
        HỒ XUÂN HƯƠNG kết hôn sớm, song không được hưởng hạnh phúc trọn vẹn; ở tuổi còn trẻ, HỒ XUÂN HƯƠNG đã lấy chồng hai lần, song cả hai đều chịu cảnh làm lẽ. Người chồng đầu là ông Tổng Cóc, là người giàu có, tài giỏi, lại vốn yêu thơ ca nên rất thích HỒ XUÂN HƯƠNG. Để chiều lòng bà, Tổng Cóc đã cho xây nhà thủy tạ giữa hồ để vừa tránh sự đụng độ với vợ cả, vừa thỏa sức ngâm thơ. Tuy nhiên, do tính tình nghệ sĩ nên HỒ XUÂN HƯƠNG thường bị dân làng lẫn hai bà vợ cả soi mói, đồn thổi. Để giữ sự hạnh phúc cho gia đình chồng, bà đã đi theo ông Phủ Vĩnh Tường khi đang mang thai đứa con với Tổng Cóc.
        Đến ngày HỒ XUÂN HƯƠNG sinh nở, Tổng Cóc đến gặp xin đón con về nuôi, nhưng được người nhà ông Phủ Vĩnh Tường cho biết con gái của hai người đã mất ngay lúc mới lọt lòng. Cuộc hôn nhân với người chồng thứ hai cũng không mấy trọn vẹn, mối tình của Xuân Hương với ông Phủ Vĩnh Tường kéo dài vỏn vẹn hai mươi bảy tháng, sau đó ông Phủ Vĩnh Tường qua đời. Có giả thuyết cho rằng nữ thi sĩ sau đó đã lấy thêm một người chồng thứ ba. Có có nguồn cho biết, sau hai kiếp vợ lẽ, bà sống độc thân đến cuối đời và được cho là mất vào khoãng năm 1822.                                                           
        Sau đây là mấy bài thơ tiêu biểu của bà Hồ Xuân Hương:

1- TRỐNG THỦNG:
Của em bưng bít vẫn bùi ngùi,
Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi,
Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc,
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi,
Khi giang thẳng cánh bù khi cúi,
Chiến đứng không thôi lại chiến ngồi.
Nhắn nhủ ai về thương lấy với,
Thịt da ai cũng thế mà thôi.

2- VỊNH CÁI QUẠT:
Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dán tự bao giờ,
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

3- ĐÁNH ĐỦ:
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông.
Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân có biết xuân chăng tá,
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không.

4- CON ỐC NHỒI:
Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi,
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.
Quân tử có thương thì bóc yếm,
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.

5- HANG CÁC CỚ:
Trời đất sinh ra đá một chòm,
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm!

6- ĐÈO BA DỘI:
Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắc lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

7- DỆT CỬI:
Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau,
Con cò mấp máy suốt đêm thâu.
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt đâm ngang thích thích mau.
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả,
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ,
Ch
ờ đến ba thu mới dãi màu.

8- MẮNG HỌC TRÒ:
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ ?
Lại đây cho chị dạy làm thơ,
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa.

9- VỊNH CÁI GIẾNG:
Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nước trong leo lẻo một dòng thông.
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá diếc le te lách giữa dòng.
Giếng ấy thanh tân ai cũng biết,
Đố ai dám thả nạ dòng dòng.

10- ĐÁNH CỜ:
Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người.
Hẹn rằng đấu trí mà chơi,
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết.
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,
Để đôi ta quyết liệt một phen.
Quân thiếp trắng, quân chàng đen,
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa.
Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Đem tốt đầu dú dí vô cung,
Thiếp đang mắc nước xe lồng,
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu
Thua thì thua quyết níu lấy con.
Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở
bàn son quân ngà. 

11- THIẾU NỮ NGỦ NGÀY:
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thi
ếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
L
ược trúc chải cài trên mái tóc,
Y
ếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò B
ồng đảo sương còn ngậm,
M
ột lạch Đào nguyên nước chửa thông.
Quân t
ử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì cũng d
ở, ở không xong.   

12- NHÀ SƯ:     
Chẳng phải là Ngô, chẳng phải ta,
Đ
ầu thì trọc lốc, áo không tà.
O
ản dâng trước mặt, năm ba phẩm,
Vãi m
ọp sau lưng, bảy tám bà.
Khi c
ảnh, khi tiu, khi chũm choẹ,
Gi
ọng hì, giọng hí, giọng hi ha.
Tu lâu có l
ẽ lên sư cụ,
Ng
ất nghểu tòa sen nọ đó mà!      

13- CẢNH LÀM LẼ:
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái ki
ếp lấy chồng chung!
Năm thì m
ười họa, nên chăng chớ,
M
ột tháng đôi lần, có cũng không ...
C
ố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng,
C
ầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví bi
ết dường này nhỉ,
Thà tr
ước thôi đành ở vậy xong.    

14- DỆT VẢI:
Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau,
Con cò m
ấp máy suốt đêm thâu.
Hai chân đ
ạp xuống năng năng nhắc,
M
ột suốt đâm ngang thích thích mau.
R
ộng, hẹp, nhỏ, to, vừa vặn cả.
Ng
ắn, dài, khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào mu
ốn tốt ngâm cho kỹ,
Ch
ờ đến ba thu mới dãi mầu.      
           Tác giả: HỒ XUÂN HƯƠNG



15- TÁT NƯỚC:
Đang cơn nắng cực chửa mưa tè,
Rủ chị em ra tát nước khe.
Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm,
Lênh đênh một ruộng bốn bờ be.
Xì xòm đay nước mình nghiêng ngửa,
Nhấp nhổm bên ghềnh đít vắt ve.
Mãi việc làm ăn quên cả mệt,
Dang hang một lúc đã đầy phè.  

HỒ NGUYỄN xin kính họa bài “TÁT NƯỚC”
Qua cơn nắng cực đón mưa tè,
Mấy chị se quần tát nước khe.
Lỏm bỏm gầu khua ba gái chụm,
Lu bu mấy gả đấp bờ be.
Ầm ầm nước đổ thân hì hục,
Ủng ủng gàu kêu …đít tét ve.
Tát nước cong lưng le lưỡi mệt,
Vun bờ chống chỏi thở phè phè.
                               HỒ NGUYỄN


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

TRÀ NGUỘI -Thơ kiều Mộng Hà và Thơ Họa

TRÀ NGUỘI Chớp mắt còn chi!!! Tiệc đã tàn Cố quên vết xước của thời gian Người đi trà nguội tình sương khói Bướm vắng hoa tàn mộng dở dang N...