Thứ Năm, 6 tháng 7, 2017

NGUYỆT DẠ CA 2 - Ngân Triều chú giải

Nguyeät daï ca, [kyø 2]
                 Mai Sơn Phủ
·        [II] Khi nhận được bài thơ trên của Mai Sơn Phủ, Hồ Phi Mai họa ngay:

 

 

Nguyt d ca kỳ 2 

• Bài hát đêm trăng kỳ 2

Văn bản chữ Hán, Ngân Triều soạn:
花 其字 兮葩其詩
霞 為裳 兮雲為衣
亦旣兮我心則夷
語曷旣兮栖 遲
愁 泰 湘 水 聽
悶 壓 蜀 山 低
日 月 無 根 兮
情 之 所 鍾
不 知其 期
*
Nhất Uyên phiên âm Nguyệt dạ ca II
Hoa kỳ tự hề ba kỳ thi, 
Hà vi thường, hề vân vi y,
 
Diệc ký câu hề ngã tâm tắc di.
 
Ngữ hạt ký hề thê trì.
 
Sầu thái Tương thủy thính,
Muộn áp Thục Sơn đê, (1)
 Nhật nguyệt vô căn hề, 
Tình chi sở chung ?
 
Bất tri kỳ kỳ?
*
Chú giải:
thườnglà chiếc quần; còn Xiêm, , áo lót che trước ngực của phụ nữ ngày xưa, tức là chiếc yếm; còn có nghĩa là chiếc quần, Ở văn cảnh nầy sử dụng thường, 裳, chiếc xiêm hay chiếc quần) 
diệc=cũng) dịch gặp lại nhau.
thính, nghe, theo, đoán, định.
chung, cái chuông, còn có nghĩa thời giờ
Tương thủy湘  水,nước sông Tương.
Muộn áp Thục Sơn đê,  悶 壓蜀 山 低,Nỗi buồn ép vào, nén/ giăng trùm lên chân núi Thục.

Tương Giang bắt nguồn từ núi Duyên, huyện Hưng Yên tỉnh Quảng Tây. Trong bài Trường Tương tư của Lương Ý Nương  梁意娘 có một đoạn thơ:  

我在湘江頭,
君在湘江尾。
相思不相見,
同飲湘江水
*
Ngã tại Tương Giang đầu,
Quân tại Tương Giang vĩ.
Tương tư bất tương kiến,
Đồng ẩm Tương giang thủy
*
Đầu sông thiếp vẫn đợi chờ, 
Cuối sông chàng nhớ bơ phờ lòng đau.
 
Nhớ nhau chẳng thấy mặt nhau
 
Nước sông cùng uống dạ sầu chẳng khuây.
*

Thục Sơn
蜀 山 ,ở phía Đông Nam huyện Tuyên Hưng Tỉnh Giang Tô.Nhưng trong bài này Hồ Xuân Hương nói đến núi Thục trên đường đi qua Ba Thục của Lý Bạch:
(Bài Thục đạo nan, 蜀道難,Lý Bạch, có đoạn:
 
使  
 
*
Thục đạo chi nan nan ư thướng thanh thiên
Sử nhân thính thử điêu chu nhan
Liên phong khứ thiên bất doanh xích
Khô tùng đảo quái ỷ tuyệt bích
***
 Đường đi Thục khó, khó hơn lên trời xanh 
 Khiến cho ai nghe tới đang mặt mày tươi tắn liền phải khổ sầu 
Mấy dãy núi san sát nhau, cách trời không đầy thước 
Cây tùng khô treo ngược dính vào vách đá cao ngất 
***
Đường Thục khó hơn lên trời xanh
Khiến người nghe nói héo mặt son
Núi liền cách trời chẳng đầy thước
Thông khô vắt vẻo vách cao ngất
(1), Muộn áp Thục Sơn đê, 悶   壓 蜀  山 低,buồn giăng trùm núi Thục.
*
Nhất Uyên dịch nghĩa Bài ca đêm trăng 2. 
Hoa là chữ, chừ nhụy là thơ,  
Ráng là chiếc xiêm chừ  mây là y trang 
Khi gặp lại nhau, chừ lòng ta phơi phới. 
Lời thư chừ sao chậm tới, 
 
Nghe sầu trôi miết sông Tương, 
 
Buồn giăng trùm lên núi Thục. 
 
Thời gian chờ đợi khô héo rễ lòng, 
Khi nào gặp lại ? Biết đến bao giờ?
Diễn văn xuôi của Nhất Uyên:
Hoa là chữ, nhụy là thơ.
Ráng hồng hoàng hôn là xiêm, mây là áo.
Nơi nào cùng có hoa có nhụy, có ráng chiều, có mây là nơi ta gặp nhau; khi gặp nhau lòng ta phơi phới.
Nhưng giờ đây thư chàng sao chậm tới?
Lòng thiếp, lòng chàng như kẻ đầu sông Tương, cuối sông Tương, không gặp nhau nhưng cùng một lòng nhớ thương nhau, (cùng uống nước sông Tương).
Nỗi buồn nào chất ngất như Lý Bạch đứng dưới chân núi Thục.
Ngày tháng này tâm hồn thiếp như không còn gốc rễ; lênh đênh như ngọn cỏ bồng.
Mình sẽ gặp lại nhau nơi nào, bao giờ đây ?
Tham khảo:Mối tình Hồ Xuân Hương và Mai Sơn Phủ qua Lưu Hương ký,TS Phạm Trọng Chánh, Paris.
* 
Dịch thơ:
(1)Bn dch ca Bùi Hnh Cn
Hoa làm chữ chừ nhụy làm thơ,
Ráng làm xiêm chừ mây làm áo.
Cũng đã gặp nhau chừ lòng ta vui vầy
Lời gửi chừ sao chậm chầy
Sông Tương nghe buồn chảy
Non Thục sầu nén đầy
Trời trăng chừ không gốc
Chung đúc mối tình, biết bao giờ đây?
Nguồn: Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại,
Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999

*
(2) Ngân Triều diễn thơ, Bài ca đêm trăng 2, Mai Sơn Phủ:
Tình ta hoa nhụy đẹp văn thi,
Mây ráng là trang phục ngoại y.
Thương nhớ gặp nhau bừng rạng rỡ,
Chờ mong tin nhạn bặt rì rì.
Sông Tương sóng gợn dào thương nhớ,
Núi Thục buồn giăng kín lối đi.
Mòn mỏi miên man chờ chết lặng!
Mong thay chớ lỡ hẹn sai kỳ.

Ngân Triều
*
Nguồn : Theo tài liệu của TS Phạm Trọng Chánh,"Mối tình Hồ Xuân Hươngvới Mai Sơn Phủ qua Lưu Hương Ký"

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét