Minh họa: Kris Atomic/Unsplash
Lương Thái Sỹ & An Dân
8 tháng 8, 2021
Bạn
đã uống cà phê nhiều, bạn biết muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có
khó: Cà phê sẻ loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê Mít đặc quánh mà vô
vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường
rồi; muốn kẹo thêm nữa hả? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu
lưỡi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là
xong ngay. Bạn muốn có vị rhum, thì rhum; bạn thích cái béo béo, thơm
thơm của bơ, cứ bỏ chút Bretel vào. Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì
à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà.
Đậm làm sao? Giống như uống coca thì phải
có thêm chút muối cho mặn mà đầu lưỡi ấy mà. Uống chanh đường pha thêm
chút rhum cho nó ra dáng tay chơi. Như kẻ hảo ngọt nhưng vẫn cắn răng
uống cà phê đen không đường cho lập dị. Thèm đá muốn chết nhưng cứ chốn
bạn nhậu thì nằng nặc đòi uống chay không đá
cho khác người, cho đẳng cấp.
Tôi
không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm lấy. Bạn đòi phải
có tách sứ, thìa bạc; bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến,
phải hút Capstan (dộng vài phát hết gần nửa điếu và rít đỏ đầu), Ruby
quân đội hay Basto xanh mới đã đời, thú vị phải không? Thì đó, bạn đã có
đủ hết những gì bạn cần, sao không tự pha ra mà uống, lại cứ đòi đi
uống cà phê tiệm, dị hợm không? Nói vậy chứ tôi
biết, tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng
chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người
tại quán cà phê; “uống” không khí và cảnh sắc cà phê; “uống” câu chuyện
quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì
mời bạn đi với tôi, quanh quanh Sài Gòn làm vài ly chơi. Dĩ nhiên là
tưởng tượng, cả bạn và tôi đều biết, đã xa rồi, biền biệt lắm rồi cái
thời sinh viên (SV) ngày đó.
Bắt
đầu từ thập niên 70, những năm Sài Gòn đã trải qua những trở mình to
lớn; những cơn lốc kinh hồn; những bùng vỡ vượt mọi giới
hạn; những xô đẩy, mời gọi đầy lôi cuốn và cũng nhiều cạm bẫy. Niềm vui
và nỗi hy vọng về một vận hội mới sau biến cố 1963 qua nhanh theo với
sự yểu tử tất yếu của những người đã nhân danh một cuộc cách mạng, nhưng
là thứ cách mạng nửa vời, có khả năng đả
phá nhưng lại thiếu bản lãnh và tâm lực để xây dựng, kiến tạo; người Mỹ
đổ bộ càng lúc càng đông, theo với nó là các Snack Bar, gái làm tiền và
sự phá sản nghiêm trọng của nhiều giá trị luân lý và đạo đức. Chiến
trường càng lúc càng khốc liệt, càng áp gần
và đã trở thành một nỗi ám ảnh dai dẳng; một cơn ác mộng thường trực.
Miền
Nam Việt Nam những năm giữa thập niên 60 đến đầu thập niên 1970 như vậy
đó. Tuổi trẻ Việt Nam lột xác: lớn ra và tự già đi trước
tuổi của mình. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng
hoa bướm tự nó đã thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi,
kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ dường như tư lự, trầm lắng
hơn và đầu óc không còn, cũng không thể vô
tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên;
những ly cà phê đắng đầu tiên trong đời được nhấp vào và dù muốn hay
không, tuổi trẻ đã thực sự bị chi phối, và phải thường xuyên đối diện
với những bất hạnh của dân tộc; những thảm kịch
của thân phận mình và quán cà phê trở thành cái nơi chốn hẹn hò để dàn
trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng; có
một chút làm dáng, thời thượng. Thông cảm giùm đi, tập làm người lớn mà.
Đối
với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh
và náo nhiệt lắm. Trong suốt nhiều tuần lễ đầu tiên đi
lại phải dè dặt và lúc nào cũng lẩm nhẩm câu “thần chú”: Phan Thanh
Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên và mường tượng ra một “lá bùa” như
một thứ kim chỉ nam khả dụng. Hai con đường một chiều và ngược nhau như
cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố
giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Dĩ nhiên nếu tính từ
khu Chợ Cá tôi lưu trú, Phan Thanh Giản được hiểu như bao gồm cả khúc
Minh Mạng nối từ Ngã Bảy đến Ngã Sáu Chợ Lớn và Phan Đình Phùng phải
cộng thêm khúc Lý Thái Tổ rẽ phải đến Ngã Bảy hay
rẽ trái đến Trần Hoàng Quân để về Ngã Sáu.
Về
sau khi đã khá quen quen, lá bùa được vẽ lớn thêm ra: Từ Phan Thanh
Giản, rẽ phải theo Lê Văn Duyệt sẽ đến phố chính Lê Lợi, nhà
sách Khai Trí, chợ Bến Thành, rẽ trái lên Hòa Hưng, Bảy Hiền; từ Phan
Thanh Giản rẽ phải ở Hai Bà Trưng sẽ đến bến Bạch Đằng, rẽ trái sẽ qua
cầu Kiệu, Ngã Tư Phú Nhận; cũng từ Phan Thanh Giản rẽ trái ở Đinh Tiên
Hoàng sẽ đến rạp Casino Dakao, Lăng Ông Bà Chiểu
và hướng ngược lại là trường Văn Khoa, Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp.
Cứ như thế, cái xe cọc cạch, trung thành như một người bạn thân thiết lê
la khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.
Minh họa: Jace & Afsoon/Unsplash
Những
ngày này, tôi là khách thường trực của quán Cà phê Thu Hương đường Hai
Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất
ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặt
quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh
lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn
vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những
song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể
nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng
tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng
lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều
đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.
Chủ
quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như
với ông, bán cà phê chỉ là thú tiêu khiển và pha cà phê
là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và
muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó,
việc của bạn là uống vậy thì đừng táy máy đụng vào làm hư cà phê của
tôi. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu
đó quan sát và chờ. Yên tâm đi, đừng nôn nóng gì cả, bạn sẽ có cà phê
ngon để uống mà.
Ông
chủ sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường cho bạn, khuấy đều cho
bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly
cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương,
đặc điểm của Thu Hương. Nhiều người mới đến lần đầu không biết, cà phê
bưng tới là tự lo liệu cho mình đều bị chỉnh ngay: Ông nôn nóng mở phin
lỏng như vậy nước chảy ào ào còn gì là Thu
Hương! Ông bỏ đường ngọt như ăn chè vậy còn gì là Thu Hương! Ống khuấy
cốp cốp kiểu đó cà phê sẽ chua lét là ông giết Thu Hương rồi! “Thằng
cha” này rắc rối thật nhưng là sự rắc rối có thể hiểu được, thông cảm
được miễn là cà phê ngon.
Mà
cà phê Thu Hương ngon thiệt, ngon lắm. Trong lĩnh vực kinh doanh quán
cà phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và
cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm
chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối
cùng, cách khó nhất và ông đã thành công. Khách đến với Thu Hương là ai?
Nhiều lắm, có thể họ từ bên trường Luật qua,
từ dưới Văn Khoa, Dược, Nông Lâm Súc lên; từ Trung Tâm Văn Hóa Pháp,
Hội Việt Mỹ lại; từ Huỳnh Thị Ngà, Nguyễn Công Trứ, Vương Gia Cần, Võ
Trường Toản, Thư Viện Quốc Gia tới, quanh quanh khu Tân Định, Đa Kao cả
mà.
Cũng
có người từ xa hẹn nhau đến nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau
là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa” lắm; “ông”
nào “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng với nào là Hố Thẳm Tư
Tưởng của Phạm Công Thiện, Cho Cây Rừng Còn Xanh Lá của Nguyễn Ngọc Lan,
Nói Với Tuổi 20 của Nhất Hạnh; các tạp san Tư Tưởng, Sử Địa, Bách Khoa,
Văn và v…v… Ở Thu Hương dĩ nhiên là có thể
“uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” hay nhiều thứ giải khát khác;
tuy nhiên, phần lớn là nhâm nhi ly cà phê.
Minh họa: Paul Carmona/Unsplash
Thu
Hương nổi tiếng như vậy; ông chủ điệu như vậy, dù rành hay không cũng
phải ráng tỏ ra sành điệu với người ta chứ! Lại còn phải
cố bậm môi kéo Basto xanh cho có vẻ phong trần. Cứ như thế mà trầm ngâm
suy tư, rì rào tâm sự; đốt bao tử, đốt phổi và đốt thời gian. Nghĩ lại
thật phí phạm và đáng tiếc nhưng hồi đó thì không thấy như thế. Phải như
vậy chứ sao! Thời chiến mà, buổi nhiễu nhương
mà! Ngày đó tôi thường ngồi Thu Hương với T, một người bạn đang học năm
thứ hai ở trường Y khoa. Anh là người rất mê giáo sư Trần Ngọc Ninh,
coi ông là một nghệ sĩ tài hoa, một tay dao bậc thầy trong ngành giải
phẫu và vẫn thường say sưa kể việc thầy Ninh
có thể cầm lưỡi dao lam khẻ vào tập giấy quấn thuốc và cho biết trước
là sẽ rạch đúng mấy tờ.
Bạn
tôi đúng là người trời sinh ra để làm thầy thuốc, anh muốn xoa dịu mọi
khổ đau và không chịu được những điều tàn nhẫn, thô bạo.
Hồi sinh viên N té lầu chết ở trường Y khoa, báo đăng nói là tai nạn
nhưng không biết từ đâu bạn tôi khẳng định đây là một vụ ám sát, thanh
toán lẫn nhau và anh đau đớn, tức giận lắm (thật ra bạn tôi lầm, vì vụ
té lầu và cái chết của N tại trường Luật là hoàn
toàn khác nhau). Người với người cùng trăm trứng chui ra, chả lẽ không
còn cách đối đãi nào tốt hơn với nhau hay sao? Đến lúc này anh đã có câu
trả lời cho điều ám ảnh nhiều năm trước: Không phải không có cách mà là
dường như người ta không cần và cũng không
muốn phải chăng với nhau. Đau thật, nỗi đau quặn thắt tim gan.
Minh họa: Scott Webb/Unsplash
Bạn
thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc
liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may Thiết Lập, vậy bạn
có biết cà phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập,
cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó chéo qua mấy cây cổ
thụ ở bờ rào Trung tâm Thực nghiệm Y khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi
vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ
xíu hà, với lại cái tên Hồng không biết do ai đặt, gọi riết thành quen
chứ thực sự dường như quán không có bảng hiệu, và tiền diện của nó trông
ủ ê cũ kỹ lắm chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ
ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình
thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra
vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại.
Quán
hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên
mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to
có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi
bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào
cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạn
phô bày vừa như thẹn thùng, che giấu. Cà phê
Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa,
bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi; tuy nhiên, nếu
ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc
biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại.
Hồi
đó nhạc Trịnh Công Sơn, đặc biệt là loại nhạc “mệt mỏi” cỡ “đại bác đêm
đêm…” hay “đàn bò vào thành phố…” đã trở thành một cái
“mốt”, một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người,
đọng lại trong lòng mỗi người. Cà phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra
là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán – những thanh
niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút (làm như
không bụi thì không là trí thức) – đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã
rời trong giọng hát của Khánh Ly. Đến Hồng không chỉ có nghe nhạc về quê
hương, chiến tranh và thân phận; ở đây còn có thể đọc về những điều đó.
Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn
tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình
thân và sự quen biết với các tác giả mà ở cà phê Hồng lâu lâu lại có
giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà
Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi
là dấn thân, tiến bộ. Lại có cả Time, Newsweek cho những bạn nào khát
báo nước ngoài. Tôi đã đi quá xa rồi phải không?
Xin
lỗi, cho tôi được mượn cơ hội này để nói về tuổi trẻ của chúng ta một
chút. Tôi đang trở lại với cà phê Hồng đây. Hồng là ai?
Tôi không biết, quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai
mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô
đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì nhưng tất cả cùng có
những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người:
Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và ít nói, ít cười, trừ
cô chị; cái kiểu ít nói ít cười làm chết người ta. Còn cái dáng đi nữa,
bạn còn nhớ không? Làm ơn nhắc giùm để tôi tả cho chính xác đi, khó quá.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có những lời hát khó
giải thích nhưng dễ cảm nhận như “vết lăn, vết lăn trầm” hay “vết chim
di” gì đó có lẽ có thể mượn để hình dung ra dáng đi của mấy cô chủ cà
phê Hồng; nó nhẹ lắm, êm ái thướt tha lắm và cũng lặng lờ khép kín lắm.
Chính
cái vẻ lặng lờ vừa như nhu lệ thẹn thùng, vừa như kênh kiệu kiêu sa,
vừa lãng đãng liêu trai đó đã làm khổ nhiều trái tim trai
trẻ lắm, rất nhiều. Những năm 1980, cà phê Hồng không còn, dãy phố nhỏ
buồn thiu, im lìm và trống vắng như nét ảm đạm chung của toàn thành phố
một thời rộn rã. Đối diện nơi quán cũ, gần cuối bờ thành Viện Pasteur là
một bãi rác khổng lồ, ruồi nhặng đen nghịt
và mùi hôi thối nồng nặc, phủ trùm; ở đó, hàng trăm ông lão bà cụ; hàng
trăm trẻ em trai gái tranh nhau giành giật, đào móc từng chút sắt vụn,
từng mảnh nhỏ nylon.
Tôi
đã thường đứng lại rất lâu, nhìn cảnh não lòng này và tự hỏi: Những
người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi?
Còn chị em cô Hồng: Những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà,
những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào? Ai có thể trả lời
được về số phận của những con người nhỏ nhoi trong thân phận chung của
cả một dân tộc! Nay khu vực này đã thay da đổi thịt
nhiều, nhưng vẫn nhớ không khí xưa của một thời làm cách mạng và phản
kháng trong… quán cà phê!
Minh họa: Aliis Sinisalu/Unsplash
Viện
Đại học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó
đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý: Hào
quang của phong trào Phật giáo đấu tranh từ nhiều năm dồn lại, cùng với
những tên tuổi chính trị đã giúp cho Đại học Vạn Hạnh được nhìn vừa như
một cơ sở giáo dục khả tín vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ
tuổi ý thức và dấn thân nhất. Tuy nhiên,
dường như cái hồn của Đại học Vạn Hạnh được đặt tại một tiệm cà phê:
Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó chéo về phía chợ Trương Minh Giảng. Quán
Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước
nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc
chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của
những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa.
Tôi
quen với Nắng Mới vì họa sĩ HĐ Ngọc, bạn tôi có lúc thuê nhà ở bên hông
ĐH Vạn Hạnh; và NN Trường thuê nhà trong hẻm sâu gần
quán cà phê cóc của nhạc sĩ Lê Đô được biết đến với tập sách dạy tự học
đàn guitar Carulli. Chừng đó là quá đủ, quá đạt để phe ta tụ lại: Các
anh chị em thuộc khối Văn Thể Mỹ của nhạc sĩ PT Mỹ tấp vào nói chuyện
văn nghệ; nhóm làm thơ trẻ Nguyễn Lương Vỵ,
Võ Chân Cửu – lúc đó đang lên và đang chiếm đều đặn nhiều cột thơ trên
báo Khởi Hành – ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ; những “chuyên
viên xuống đường và lợi dụng xuống đường” cũng chụm đầu lại để bàn mưu
kế.
Nhưng
đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc
ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau ở Nắng
Mới. Mỗi lần có đêm không ngủ, sáng Nắng Mới không còn chỗ ngồi. Vạn
Hạnh như một lò lửa, một điểm nóng, một trung tâm. Hình như Nắng Mới đã
sống với Vạn Hạnh, sống theo Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nắng Mới
nay không còn. Những con người cũ tứ tán muôn
phương. Cái nơi chốn đầy sức sống và niềm tin ngày nào giờ tiêu điều
buồn bã như dòng kinh nước đen uể oải dưới chân cầu Trương Minh Giảng.
Có
một quán cà phê thân quen nữa không thể không nhắc đến: Quán chị Chi ở
gần đầu đường Nguyễn Phi Khanh, cách không xa Casino Đa
Kao. Thật ra đây không phải là quán cà phê mà là quán trà; mà có lẽ
cũng không thể gọi là quán trà mà chỉ có thể nói là “chỗ uống trà ở nhà
chị Chi” mới hoàn toàn đúng. Bạn hãy tưởng tượng giùm tôi cái khu gia cư
xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm
phía sau rạp Casino Đa Kao, ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi
nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè; ở
đó không có cái ồn ào náo nhiệt như ngoài Trần Quang Khải, khúc đổ về
Tân Định, cũng không có cái tập nập ồn ã của
đoạn Lê Văn Duyệt hướng về Lăng Ông; nó trầm lắng cô liêu và im ả tách
biệt lắm. Nhà nào cũng nhỏ, cất cao hơn mặt đường mấy bực tam cấp xi
măng, mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải
cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt
được với người đối diện bên kia đường.
Quán
chị Chi ở một trong những ngôi nhà này. Làm sao để nhận ra? Không biết,
tôi đã nói là không phải quán xá gì cả mà, chỉ là tới
nhà bà chị uống trà chơi vậy thôi và đã là nhà bà chị thì phải tự biết
chớ, cần gì hỏi. Phòng khách chị Chi – được gọi là quán – nhỏ lắm, chắc
độ chín mười thước vuông gì đó, chỉ đủ chỗ để đặt ba bốn chiếc bàn nhỏ.
Nhà không có nhạc, không trưng bày trang
trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh
đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh
chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp
sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to
nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm
qua con đã đi học rồi mà”.
Giang
sơn của chị Chi chỉ có vậy và chị mở “tiệm”. Khách đến với chị Chi
không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng
cáo trên đài địa phương hay đọc giới thiệu trên báo chợ báo bán gì cả,
mà hoàn toàn do thân hữu truyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành
quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà phê
nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn
sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được
pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm
màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối.
Mỗi
bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của
một người mập, vừa đủ cho vài hớp nước nhỏ. Ấm có ba loại,
được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: Độc ẩm, song ẩm và quần ẩm nhưng hồi
đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành
ấm chiếc, ấm đôi và ấm bư. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh – loại
bánh đặc biệt của chị Chi – nhỏ, màu vàng óng
và mùi thơm vô cùng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ
chuyện trên trời dưới đất trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh
cao thoát tục lắm.
Đến
với chị Chi có cái thú vị là được hưởng một không khí thân mật, thoải
mái như đang ngồi trong nhà của mình; điều thích nữa là
không bao giờ phải bận tâm đến chuyện tiền bạc gì cả; muốn đến lúc nào
cứ việc đến, không có tiền thì chỉ cần ngồi cười cười, chị Chi sẽ nói
giùm cho bạn điều bạn khó nói: “Cuối tháng chưa lãnh măng-đa phải không?
Uống gì nói chị lấy”. Chưa hết đâu, khi đã
thân, đã thành “bạn của chị Chi”, hai lần mỗi năm vào khoảng trước
Giáng Sinh và hăm ba ông táo về trời bạn sẽ được chị Chi kêu “đến chị
chơi”. Đến chị chơi có nghĩa là đến uống trà mà không phải trả tiền và
nếu gặp lúc chị Chi vui và khoẻ, “chơi” còn có nghĩa
là có bánh bèo tôm chấy hay bánh hỏi thịt nướng kèm thêm nữa.
Khách
của chị Chi không đông, giá nước ở chị Chi không đắt vì vậy chắc chắn
chị Chi không sống bằng “cửa tiệm”. Chị bán cho vui,
bán mà như kêu anh em góp chút tiền cho chị để chị nấu giùm chút nước
uống cho vui. Mà quả tình ở chỗ chị Chi vui thật, vui vì những đậm đà
tình nghĩa. Hồi đó chị Chi đã khá lớn tuổi, bây giờ chị đã lìa xa chúng
ta (mà nếu còn cũng không còn đủ sức để nấu
nước giùm cho ai được nữa). Quán chị Chi đã biến tướng ít nhiều nhưng
dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng
ngồi quán chị Chi bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó
quên cũ. Tôi nghĩ anh chị em cũng không hẹp lòng
gì mà không cho tôi nói lời đại diện này. Cuộc đời chúng ta đẹp vì
những niềm vui nho nhỏ không tên; Sài Gòn của chúng ta đáng nhớ vì những
dễ thương nho nhỏ không tên. Chị Chi, chị đã cho chúng tôi những niềm
vui ấy; chị đã góp cho Sài Gòn một phần của cái
dễ thương ấy. Cảm ơn chị và cà phê sánh đặc rất ngon của chị trong mùa
hè đỏ lửa và lệnh tổng động viên.
Minh họa: Kelly Sikkema/Unsplash
Những
năm cuối thập niên 60, Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, những
quán sau này thường được trang hoàng công phu hơn, có
hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên
rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Cà phê Hạ
Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da
Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ – hình như
là Đào Duy Từ – gần sân vận động Cộng Hòa có một quán cà phê không theo
khuôn mẫu này. Nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa La. Đa La là Đà Lạt,
quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã
thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm
cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra.
Trường
kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin
mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính
thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó
được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những
trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu
văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướm của núi
rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, những giỏ gùi sơn nữ, những cung
tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những
đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng
núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái
rất… Đa La.
Ngày
khai trương, Đa La đã mời được Linh mục Viện trưởng Viện Đại học Đà Lạt
đến dự và đã chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết
sức rôm rả với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn
Trung Cang, Lê Hựu Hà… Chừng đó là đủ chết người ta rồi, dân Đại Học Xá
kéo qua, dưới Sư Phạm, Khoa Học lên; Y Khoa; Phú Thọ xuống; cả Petrus
Ký, Chu Văn An nữa là đủ bộ, quanh quanh khu
Ngã Sáu chấm Đa La và dồn tới. Những ngày đó Đa La đông vui lắm, nó trở
thành một chốn tụ tập hết sức văn nghệ; nó đã chứng kiến sự nở hoa của
nhiều mối tình và cũng chia xẻ sự héo tàn của nhiều mối tình khác, nó có
thể tiếp tục buồn vui với những người bạn
trẻ như thế nếu như đất nước không có những đột biến to tát làm thay
đổi rất nhiều nhịp sống chung và tác động sâu xa đến suy nghĩ và hành
động của từng con người.
Đa
La vắng dần những người khách cũ, lưa thưa có thêm những người mới với
dáng vẻ ủ dột trầm ngâm hơn. Đa La lần lượt nhận được tin
tức về nhiều người bạn cũ không bao giờ còn trở về; Đa La tiếp tục có
thêm nhiều buổi cà phê cuối cùng để tiễn những người đến lượt ra đi. Đa
La còn đến lúc nào? Đóng cửa bao giờ tôi không biết, có điều là đã có
thời Đa La giống như một tri kỷ của nhiều người,
nó cũng buồn, cũng vui, cũng hy vọng, cũng rã rời, cũng phấn chấn, cũng
mệt mỏi, cũng khóc, cũng cười, cũng muốn ngoan ngoãn xây dựng, cũng
thích tung trời phá phách, cũng tỉnh, cũng điên, nói chung là nó chung
chịu với bạn bè những tháng ngày nhiều chuyện,
dễ thương lắm và đáng nhớ lắm, một chút Sài Gòn.
Minh họa: Travis Yewell/Unsplash
Cà
phê Hân ở Đinh Tiên Hoàng Đa Kao là quán thuộc loại sang trọng. Khách
phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung
lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi
ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp
ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn
lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái
vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự chính trị,
kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như
vậy tốt lắm, đáng trân trọng lắm chứ; tuy nhiên, dường như có một chút
gì rất xa, rất lạ với một dân ngoại đạo cà phê.
Hân
vốn tự nó là một nơi chốn hết sức đáng yêu và chắc chắn là một nơi chốn
rất đáng nhớ của nhiều người, dù ngồi quầy là một ông
già đeo kính như bước ra từ một câu chuyện của văn hào Nga Chekov. Về
sau, ở đối diện với Hân người ta mở thêm quán cà phê Duyên Anh của hai
chị em cô Hà, cô Thanh; cô em xinh hơn cô chị và được nhiều chàng trồng
cây si (không biết nơi này có liên quan gì
với nhà văn Duyên Anh hay chỉ là tên đặt bởi một người chủ ái mộ nhà
văn này). Quán này cũng là nơi đóng đô của một người bạn tôi, một kẻ si
tình thoát ra từ Tự Lực Văn Đoàn duy nhất còn lại của thế kỷ 20 với tình
yêu đơn phương dành cho cô em.
Hai
tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, cả hai
đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến
chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm
Súc (Trung Tâm Quốc gia Nông Nghiệp rồi Học viện Quốc gia Nông nghiệp
saa này) ngay góc Hồng Thập Tự – Cường Để còn nhớ, cũng như nhớ món bánh
cuốn ở đình Tây Hồ bên trong chợ Đa Kao thờ
cụ Phan, nhớ quán cơm lúc lắc trong một con hẻm nhỏ đường Nguyễn Bỉnh
Khiêm mà nữ sinh viên vừa đi vừa run khi được mấy chàng mời cơm.
Quán
cơm ghi sổ bên hông trường và trong con hẻm trại gia binh gần nhà thờ
Mạc-Ti-Nho (bà chủ người Huế rất nhân hậu và hiểu cho
sinh viên xa nhà. Bạn có thể ghi sổ hai, ba tháng ở đây mà không sợ bị
nắm áo. Trong số ghi sổ kinh niên có tôi và Lê Quang. Có lúc đói quá hai
thằng bỏ ngang tiết học để đi ăn cơm lúc… 10 giờ sáng). Rồi cả quán cơm
sinh viên trong sân Hoa Lư khi đã “viêm
màng túi” (từ thường dùng bây giờ). Có tiền kha khá thì ăn cơm thố ở
đường Phan Đình Phùng gần Bàn Cờ, rất ngon và lạ.
Bạn
nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kiếng
cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh
em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào
muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt
lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và
cái cách người ta đối đãi với nhau cũng rất
đẹp.
Minh họa: Markus Spiske/Unsplash
Cũng
đừng quên nhắc đến quán Chiêu, hẻm Cao Thắng, rồi còn cà phê hàng me
Nguyễn Du, bên hông Tổng cục Thực phẩm (một cơ quan tự
trị – như Tổng cục gia cư – nơi tôi vào làm việc với lương tháng hơn
40,000 đồng trước khi chuyển qua Tổng cục Thủy nông ở chân cầu Thị
Nghè), cũng Beatles với Don’t let me down, cũng Elvis Presley như ai; và
cả pha chút Adamo quyến rũ. Vợ tôi có cô bạn Nina
với quán Nina gần ngã ba, giá cao gấp rưỡi những quán bình dân gần hãng
Shell nhưng so với Pole Nord hay La Pagode thì chỉ bằng 1/4 là cùng.
Dần dần cà phê Nguyễn Du kéo tận đến bên hông trường đạo gần Nhà thờ Đức
Bà, bản doanh của các luật sư; và kéo đến
sát hông Thư viện Quốc gia.
Chán
cà phê thì đi ăn nghêu sò, bò bía, ăn kem trên đường Nguyễn Tri Phương,
góc Minh Mạng hoặc bên hông chợ Tân Định. Phá lấu đã
có góc Pasteur-Lê Lợi, nhưng chỉ dành cho các bạn có tiền. Rủng rỉnh tí
xu dạy kèm cuối tháng có Mai Hương hay Chiêu ở Cao Thắng. Quán Mù U,
hẻm Võ Tánh, chỗ thương binh chiếm đất ở gần Ngã tư Bảy Hiền dành cho
những bạn muốn mờ mờ ảo ảo. Muốn thưởng thức
túp lều tranh mời đến cà phê dựa tường Nguyễn Trung Ngạn gần dòng Kín,
đường Cường Để. Rồi quán cà phê Lú ở chợ Thị Nghè của một tay họa sĩ tên
Vị Ý. Cao cấp hơn có La Pagode, Brodard.
*****
Thích
xem phim Pháp xưa, phim Mỹ xưa và ngồi… cả ngày xin mời vào rạp Vĩnh
Lợi trên đường Lê Lợi để chung vai với đám đồng tính.
Vào Casino Sài Gòn có thể vào luôn hẻm bên cạnh ăn cơm trưa rất ngon
tại một quầy tôi đã quên tên. Nhưng rạp Rex vẫn là nơi chọn lựa nhiều
nhất của SV, cả nghèo lẫn giàu. Người chịu tiền vé xem phim, người chịu
tiền cà phê, cuộc sống SV cứ chia sẻ như thế
mà đi tới vô định. Nghèo nhưng vui và mơ mộng tới trời. Tống Biệt hành,
Đôi mắt người Sơn Tây sống chung với Cô hái mơ. Đại bác ru đêm sánh vai
với Thu vàng. Ảo vọng và thực tế lẫn vào nhau. Thi thoảng lại pha thêm
chút Tội ác Hình phạt, Zara đã nói như thế,
Che Guervara, Garcia Lorca… nhưng định hướng vẫn mịt mờ, vô định, không
thấy đâu là đường. Cứ ngỡ mở mắt dậy sẽ thành anh hùng nhưng lại không
có ngày mai.
Trong
tâm trạng đó SV nào chả có một lần ghé Ngã ba Chú ía hay Ngã năm Chuồng
chó để biết mùi đàn bà? Và rồi kết thúc tại Trung tâm
Da liễu Hồ Xuân Hương nếu thiếu may mắn. Nhưng không sao, sinh viên mà!
“Cõi trên” một chút, tâm thần một chút, lập dị một chút, đói (giả hay
thật) một chút, “thầy tu” một chút, du đãng một chút và cả ở bẩn một
chút, thì mới là sinh viên. Tất cả những gì tôi
nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và
nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em,
đặc biệt là tặng tất cả những ai tha hương có lúc bỗng bàng hoàng nhận
thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang
bay lơ lửng ở cà phê Hồng, Duyên Anh, hay đâu đó ở quê nhà…
Sài Gòn, Tháng Tám 2021
(Kỷ niệm những năm ở cư xá HỌC VIỆN QUỐC GIA NÔNG NGHIỆP SÀI GÒN trước 1974)
Dịch thế này ở nhà mua loa tại: https://viethungaudio.vn/he-thong-truyen-thanh-thong-minh-4g-chat-luong-cao-gia-tot để nghe nhạc sướng hơn đó
Trả lờiXóa