Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2018

Góc Việt Cổ Thi : Tùng Thiện Vương - Miên Thẩm (Mai Lộc,Đỗ Chiêu Đức.Mai xuân Thanh )


 1. Liễu
Miên Thẩm
Khứ tuế, xuân tàn, hoàng điểu quy,
Thu dung tiều tụy, nguyệt minh tri,
Đông phong tạc dạ xuy hà xứ,
Cánh nhạ tân sầu thướng hiểu mi.

Dịch nghĩa
Năm ngoái, mùa xuân đã tàn, chim hoàng oanh bay về
Dung nhan tiều tụy chỉ có ánh trăng sáng kia biết
Đêm qua gió xuân thổi ở xứ nào
Lại rước lấy mối sầu mới dâng lên nét mày thanh.

Dịch Thơ :
(1)
Năm ngoái oanh về xuân sắp phai
Dung nhan tiều tụy ánh trăng hay
Gió xuân đêm trước từ đâu thổi
Sầu sát lại thêm đọng nét ngài.
(2)
Năm ngoái oanh về xuân phai
Dung nhan tiều tụy, thở dài, trăng hay.
Gió xuân đâu đến lay lay,
Sầu thêm cao ngất đong đầy bờ mi!

 2. Lục thuỷ
Miên Thẩm
Lục thuỷ thanh sơn thường tại,
Cô vân dã hạc đồng phi.
Đoản đĩnh liễu biên khách điếu,
Tiểu kiều nguyệt hạ tăng quy.

Dịch Thơ :

Nước Biếc
Nước biếc non xanh mãi vậy thôi
Mây đơn hạc nội vẫn song đôi.
Thuyền con bờ liễu ai câu cá?
Cầu nhỏ sư về bóng nguyệt trôi !

 3. Kim tỉnh oán
Mỹ nhân chiếu kim tỉnh,
Tỉnh để hoa nhan lãnh.
Không phòng dạ bất quy,
Nguyệt chuyển ngô đồng ảnh.

Dịch nghĩa :
Người đẹp soi giếng vàng
Đáy giếng lộ ra dung nhan lạnh nhạt
Phòng không đêm không (dám) về (ngủ)
Trăng chuyển bóng ngô đồng
Dịch Thơ :
Nỗi Oán Nơi Giếng Vàng
Giếng vàng người đẹp mặt gương soi,
Đáy nước dung nhan thấy kém rồi.
Trở lại phòng không đêm chẳng dám
Ngô đồng bóng chuyển ánh trăng lơi.


Giếng vàng người đẹp soi
Dung nhan kém tươi rồi,
Phòng không về chẳng dám
Ngô đồng bóng trăng lơi.

 4. Nam khê
Loạn sơn thâm xứ nhất khê hoành,
Thập nhị niên tiền trú mã tình.
Lưu thuỷ tự tri nhân sự dị,
Sàn viên bất tác tích lai thanh.
Miên Thẩm
Dịch nghĩa
Nơi chốn sâu núi chập chùng, khe nước chảy ngang
Mười hai năm trước đã có tình dừng ngựa nghỉ tại đây
Dòng nước chảy như biết việc người đời đã đổi khác
(Nên) tiếng róc rách không giống như năm xưa nữa
Dịch Thơ :
(1)
Sâu thẩm suối xuyên núi điệp trùng
Hai mươi năm trước vó câu dừng.
Việc người thay đổi suối dường biết
Tiếng nước giờ nghe khác lạ lùng !
(2)
Suối xuyên trùng điệp núi rừng,
Hai mưới năm trước ngựa dừng nơi đây.
Việc người thay đổi suối hay,
Nước xưa róc rách ngày nay khác rồi!


 5. Văn thiền
Tống quân tằng thử địa,
Nhất biệt hốt kinh niên.
Sầu sát trường đình liễu,
Thu phong khởi mộ thiền.
Dịch Thơ :
(1)
Nghe Tiếng Ve

Tiễn chàng từng ở nơi đây,
Biệt ly một thoáng đã đầy một năm
Trường đình liễu rũ buồn căm,
Thu phong vang dậy tiếng ngân ve chiều.
Mailoc
(2)
Từng tiễn chàng nơi đây,
Ly biệt một năm đầy
Trường đình buồn liễu rũ,
Thu phong dậy ve sầu.
ML

 6. Dạ bạc Nguyệt Biều
Trúc âm lương xứ dạ đình thuyền,
Thuỷ nguyệt, giang phong, vị nhẫn miên,
Cách ngạn chung lâu Thiên Mụ tự,
Thanh thanh sao phá viễn đinh yên.
Miên Thẩm

Dịch nghĩa
Dưới bóng tre yên lặng, ở nơi mát mẻ, chiếc thuyền đậu lúc ban đêm,
Trăng dưới nước, gió trên sông, chưa đành ngủ,
Bờ bên kia, có lầu chuông Thiên Mụ,
Dội vang từng tiếng, phá tan làn khói ngoài xa, trên mặt sông.
Dịch Thơ :
Đêm Đậu Bến Nguyệt Biều
Dưới bóng tre, đêm yên thuyền đỗ,
Trăng-nuớc-sông khó dỗ giấc nồng
Bên sông Thiên Mụ hồi chuông
Ngân nga xua hết khói sông đêm trường
Mailoc
Tiểu sử
Tùng Thiện vương là con trai thứ 10 của Minh Mạng, sinh ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mão (tức 11 tháng 12 năm 1819) tại cung Thanh Hòa trong cấm thành Huế. Mẹ ông là Thục tần Nguyễn Thị Bửu (阮氏寶), người Bình Chương, Gia Định, con gái của Tư không Nguyễn Khắc Thiệu (阮克紹), rất giỏi chữ nghĩa.
Thuở lọt lòng, ông được ông nội đặt tên là Hiện (晛)[1][2]. Đến năm 1832, khi đã có Đế hệ thi, ông được cải tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm (阮福绵审).
Ông nội ông là Gia Long rất vui mừng, thưởng liền 10 lạng vàng[3]. Khi còn nhỏ, tính hay khóc, Thục tần rất lo mà không biết thế nào. Bỗng có đạo sĩ nói rằng: "Đây là sao Thái Bạch Kim Tinh giáng sinh, làm lễ tiễn thì khỏi.". Sau làm lễ, quả nhiên khỏi hẳn.
Năm lên 7 tuổi, Miên Thẩm cùng với các em vào Dưỡng Chính đường (養正堂), được thầy Thân Văn Quyền[4] dạy chu đáo. Ông rất chịu khó học tập, nên mới 8 tuổi (1827), nhân theo hầu Minh Mạng dự lễ Nam Giao, ông làm bài Nam Giao thi, rất được tán thưởng.
Năm 1839, ông được phong làm Tùng Quốc công (從國公), mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế.
Năm 1849, ông lập thêm Tiêu Viên sau phủ, đón mẹ (Thục tân Nguyễn Thị Bửu) và ba em gái (Nguyệt Đình, Mai AmHuệ Phố) ra phụng dưỡng chăm nuôi. Khi các em lần lượt có chồng, rồi mẹ mất, ông cải tạo phủ chính làm nhà thờ, còn mình lui về ở Tiêu Viên và dựng lều tranh bên cạnh mộ mẹ cư tang ba năm.
Năm 1854, mãn tang, ông được gia phong Tùng Thiện công (從善公). Năm 1858, ông mua 12 mẫu ruộng ở xã Dương Xuân, làm nhà ở gọi là Phương Thốn thảo đường.
Năm 1865, ông giữ chức Tả Tôn Nhân phủ, trong thời gian này xảy ra sự biến giặc Chày vôi. Trước đó, ông đã gả con gái là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, một thanh niên ở làng An Truyền (tức làng Chuồn). Năm 1866, Hữu Trưng ngầm làm cuộc nổi dậy nhằm lật đổ Tự Đức. Việc thất bại, Hữu Trưng và nhiều người bị hành hình. Mặc dù trước đó, Hữu Trưng đã lấy cớ vợ cư xử trái lễ với mẹ chồng mà trả về để tránh liên lụy cho nhà vợ, Miên Thẩm cũng trói cả con gái và cháu ngoại, quỳ dâng sớ xin chịu tội.
Tự Đức không kết tội chỉ nói ông: "Chọn rể không cẩn thận để mất thanh danh, nay trừ bổng trong tám năm". Suốt những năm bị trừ bổng ấy, ông lên ngôi chùa cổ Từ Lâm hoang tàn ở xã Dương Xuân làm nơi cư ngụ, vợ con phải canh tác trồng cây quả đem ra chợ bán để có cái ăn hàng ngày.
Ông mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (tức 30 tháng 4 năm 1870), lúc 51 tuổi. Thụy là Văn Nhã (文雅). Năm 1878, ông được Tự Đức gia tặng là Tùng Thiện Quận vương (從善郡王).
Năm 1936[5], Bảo Đại mới truy phong ông là Tùng Thiện vương (從善王), tước vị mà ngày nay người ta quen gọi.
Tùng Thiện Vương là bạn thơ chí tình của Cao Bá Quát
( Nguồn gốc : Wikipedia VN )



    Đỗ Chiêu Đức mới tham gia với các bài dịch thơ của Tùng Thiện Vương - Miên Thẩm sau đây :
       

1. 
        柳                          LIỄU
去歲春殘黃鳥歸,      Khứ tuế xuân tàn hoàng điểu quy,
秋容憔悴月明知.      Thu dung tiều tụy nguyệt minh tri.
東風昨夜吹何處,      Đông phong tạc dạ xuy hà xứ ?
更惹新愁上曉眉.      Cánh nhạ tân sầu thướng hiểu my.

Diễn Nôm :
                          LIỄU
         Năm ngoái xuân tàn oanh vội bay,
         Dáng thu tiều tụy mảnh trăng soi.
         Đêm qua gió cuốn về đâu nhỉ ?
         Lại rước thêm sầu liễu sáng nay !
Lục bát :
         Xuân tàn oanh vội bay về,
         Nét thu tiều tụy não nề trăng soi.
         Đêm qua gió thổi nhà ai,
         Sáng nay sầu đượm nét ngài ủ ê !


2. 
     淥水                  LỤC THỦY
淥水青山常在,     Lục thủy thanh sơn thường tại,
孤雲野鶴同飛。     Cô vân dã hạc đồng phi.
短艇柳邊客釣,     Đoản đĩnh liễu biên khách điếu,
小橋月下僧歸。     Tiểu kiều nguyệt hạ tăng quy.

CHÚ THÍCH :

 * Lục Thủy : là Dòng nước trong. Chữ LỤC 淥 có 3 chấm thủy 氵, có nghĩa là Trong trẻo. Chữ LỤC 綠 có bộ Mịch 糸 là sợi tơ mới có nghĩa là Màu Xanh. 
 * Đoản Đĩnh : là chiếc xuồng con.

DIỄN NÔM :
                 Nước biếc núi xanh còn đó,
                 Mây đơn hạc lẻ cùng bay.
                 Xuồng con thả câu bờ liễu,
                 Sư về cầu nhỏ trăng lay !
Lục Bát :
             Núi xanh nước biếc còn đây,
             Hạc đơn mây lẻ cùng bay ven trời.
             Xuồng con bờ liễu câu hời,
             Dưới trăng cầu nhỏ sư hồi thiền môn.

3.
   金井怨          KIM TỈNH OÁN

美人照金井,   Mỹ nhân chiếu kim tỉnh,
井底華顏冷。   Tỉnh để hoa nhan lãnh.
空房夜不歸,   Không phòng dạ bất quy,
月轉梧桐影。   Nguyệt chuyển ngô đồng ảnh.

CHÚ THÍCH :
 * Kim Tỉnh : Giếng vàng, là giếng của các nhà quyền qúy, trên mặt miệng giếng có dát vàng. Trong Kiều khi chuyển mùa Nguyễn Du cũng đã viết :
                     Thú quê thuần hức bén mùi,
                 Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.

 * Hoa Nhan : là dung nhan của tuổi hoa niên, chỉ nét mặt son trẻ.

DIỄN NÔM :
                    Người đẹp soi giếng vàng,
                    Dưới giếng dung nhan lạnh.
                    Phòng không cũng chẳng màng,
                    Trăng soi ngô đồng ảnh.
 Lục Bát :
                Săm soi người đẹp giếng vàng,
                Lạnh lùng nhan cắc ngỡ ngàng tái tê.
                Phòng không đêm chẳng buồn về,
                Ánh trăng lay động đã xê ngô đồng !     

4.
       南溪                      NAM KHÊ

亂山深處一溪橫,     Loạn sơn thâm xứ nhất khê hoành,
十二年前駐馬情。     Thập nhị niên tiền trú mã tình
流水自知人事異,     Lưu thủy tự tri nhân sự dị,
潺湲不作昔來聲。     Sàn viên bất tác tích lai thinh

CHÚ THÍCH :

 * Khê : Ta nói là Khe, là dòng nước từ trong núi chảy ra, là con sông nhỏ được hình thành bởi các dòng suối, mà ta quen gọi là SƠN KHÊ 山溪.
 * TRÚ : là Trú đóng, là dừng lại để nghỉ ngơi, ăn uống, cắm trại... khác với Đình Mã 停馬 là chỉ dừng chân một chút rồi đi.  
 * Sàn Viên : từ Tượng Thanh, chỉ tiếng Róc ra róc rách của nước chảy.

 DIỄN NÔM :
                          Khe Suối Nam

                 Ngổn ngang ngàn núi dòng khe cũ,
                 Dừng ngựa mười năm tình ấp ủ.
                 Nước chảy như tình người đổi thay,
                 Róc ra róc rách không như cũ !
Lục Bát :
               Vắt ngang trong suối dòng khe,
               Mười hai năm trước ấp e hàm tình.
               Nước trôi nhân sự điêu linh,
               Chẳng còn róc rách hàm tình như xưa !

                                                      Đỗ Chiêu Đức

(Ảnh: Chân dung và lăng TTV.Miên Thẩm,gần chùa Từ Hiếu -Huế -Wikipedia) 

Mai Xuân Thanh
1) Liễu

Oanh bay năm trước bóng xuân tàn
Nguyệt tỏ gương thu thấy võ vàng
Gió ở đâu đêm đông thổi lại
Muộn sầu mắt lệ đẫm tuôn tràn
                                        MXT

2) Nước trong veo

Núi xanh nước biếc đó bao ngày
Hạc chiếc mây đơn có bạn bay
Bờ liễu xuồng con câu bắt cá
Dưới trăng cầu nhỏ bóng sư thầy
                                        MXT
3) Giếng Vàng
Giếng vàng đáy nước bóng giai nhân
Nét mặt như hoa thấm lạnh dần
Gối trống phòng không lòng chẳng đoái
Ngô đồng di ảnh dưới trăng ngân
                                            MXT

4) Suối Khe Nam
Chập chùng núi thẳm suối khe ngang
Vó ngựa mười năm đó ngỡ ngàng
Khác biệt chi người qua nước chảy
Còn đâu róc rách cũ tình lang !

Mai Xuân Thanh
Ngày 03 tháng 04 năm 2018

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét